Tại Việt Nam, kỹ thuật cắt niêm mạc nội soi dưới nước (UEMR) mới được triển khai ở một số cơ sở y khoa lớn, trong đó có Bệnh viện Nhân dân 115.

Ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến và gây tử vong hàng đầu trên thế giới, phần lớn bắt nguồn từ sự tiến triển ác tính của polyp tuyến – tổn thương tiền ung thư có thể được phát hiện và loại bỏ sớm bằng nội soi. Trong nhiều năm, kỹ thuật cắt niêm mạc nội soi (EMR) đã đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa, song vẫn còn hạn chế ở khả năng cắt bỏ triệt để và nguy cơ biến chứng.

Kỹ thuật cắt niêm mạc nội soi dưới nước (Underwater Endoscopic Mucosal Resection, UEMR) - cắt niêm mạc trong môi trường nước - được bác sĩ Ryohei Binmoeller (Mỹ) và cộng sự tại California Pacific Medical Center (San Francisco, Hoa Kỳ) phát triển và công bố lần đầu vào năm 2012.

Khác với phương pháp cắt niêm mạc truyền thống sử dụng khí hoặc CO₂ để làm căng lòng ruột, trong kỹ thuật UEMR, bác sĩ bơm nước vào lòng đại tràng, khiến đầu polyp nổi lên trên mặt nước, giúp quan sát rõ cuống polyp và dễ thao tác cắt bỏ hơn. Nhờ đó, bác sĩ có thể cắt polyp mà không cần tiêm dung dịch dưới niêm mạc, đồng thời giảm nguy cơ thủng, chảy máu và rút ngắn thời gian thủ thuật.

Phương pháp này cũng khắc phục được các hạn chế của kỹ thuật EMR.Ở kỹ thuật EMR, bác sĩ phải tiêm dung dịch vào lớp dưới niêm mạc để nâng tổn thương lên, tách khỏi lớp cơ trước khi cắt. Tuy nhiên, đối với các tổn thương phẳng, sẹo xơ hoặc đã qua sinh thiết, lớp dưới niêm thường xơ dính và khó nâng, khiến việc cắt bỏ trở nên khó khăn, tăng nguy cơ thủng hoặc chảy máu.

Tại Việt Nam, kỹ thuật UEMR mới được triển khai ở một số cơ sở y khoa lớn. Trong số đó, Bệnh viện Nhân dân 115 đã thực hiện nghiên cứu “Nhận xét kết quả điều trị polyp đại trực tràng bằng phương pháp cắt niêm mạc nội soi dưới nước (UEMR)”.

Nghiên cứu tiến hành trên 30 bệnh nhân với 39 polyp không cuống hoặc dạng phẳng, kích thước 10–25 mm. Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 52,6 tuổi, trong đó nam giới chiếm hai phần ba, với polyp chủ yếu ở trực tràng và đại tràng sigma (đoạn cuối của đại tràng).

Các dạng tổn thương polyp đại trực tràng. Ảnh: NNC

Báo cáo tại Hội nghị Nội soi Tiêu hoá Can thiệp toàn quốc lần I với chủ đề “Nâng tầm thực hành – Hội nhập quốc tế”, tổ chức từ ngày 4 – 6/10/2025 tại Quảng Ninh, nhóm thực hiện cho biết, 100% ca can thiệp thành công, tỷ lệ cắt nguyên khối đạt 87,2%, tỷ lệ cắt sạch rìa mô học 84,6%, không ghi nhận trường hợp thủng ruột. Biến chứng duy nhất là chảy máu tức thì ở 6,7% trường hợp, đều được kiểm soát an toàn bằng clip nội soi, không cần truyền máu hay phẫu thuật. So sánh với dữ liệu quốc tế, tỷ lệ này tương đương hoặc cao hơn, chứng minh tính khả thi và hiệu quả của kỹ thuật trong điều kiện thực hành lâm sàng trong nước. Người bệnh được theo dõi chặt chẽ sau cắt, tái khám sau hai tuần và nội soi kiểm tra sau 3–6 tháng, không ghi nhận biến chứng muộn hay tái phát tại chỗ.

So với phương pháp truyền thống, UEMR giảm chi phí vật tư do không cần dung dịch nâng niêm mạc, phù hợp với điều kiện bệnh viện có nguồn lực hạn chế.

Theo nhóm nghiên cứu, những kết quả này là cơ sở quan trọng để Bệnh viện Nhân dân 115 đưa kỹ thuật UEMR vào thực hiện thường quy, đồng thời mở rộng công tác đào tạo và chuyển giao cho các cơ sở y tế khác.