Warren Mortimer Brodey trở thành giáo sư lâm sàng tại ĐH Georgetown vào năm 1959. Song song với việc học để lấy chứng chỉ phân tâm học, ông cố vấn cho nhiều nghiên cứu về ngoại cảm do Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) tài trợ, tìm hiểu những người mất thị lực nhưng lại phát triển thính lực vượt trội.
Qua những công trình này, ông tiếp xúc với ý tưởng là môi trường sống của chúng ta, dù tự nhiên hay nhân tạo, đều định hình tư duy của chúng ta. Ông cho rằng bối cảnh là mọi thứ, và mang theo niềm tin này đến Viện Công nghệ Massachusetts (MIT).
Tuy học làm bác sĩ, song Brodey có nhiều suy nghĩ trải rộng trong nhiều lĩnh vực như kiến trúc, thiết kế đồ chơi, âm học và điện toán mạng lưới. Khi ở MIT, ông trao đổi nhiều ý tưởng thú vị của mình với các nhà tư tưởng độc đáo khác như Marshall McLuhan, Nicholas Negroponte và Marvin Minsky – một trong những nhà tiên phong của trí tuệ nhân tạo.
Ảnh hưởng của Brodey lên đến đỉnh điểm trong những năm đầu thập niên 1970. Đây là giai đoạn tình hình kinh tế và chính trị đều bất ổn, nhưng đồng thời cũng xuất hiện tinh thần lạc quan cấp tiến về tương lai hậu công nghiệp, do công nghệ thúc đẩy – thời điểm khi các ngành khoa học tự nhiên và cảm quan của Thời đại mới giao thoa.
Ông tìm hiểu những câu hỏi táo bạo mà chỉ trong khoảng thời gian hỗn loạn ấy người ta mới có thể nghiêm túc đặt ra – những câu hỏi như “Chúng ta có thể nghiên cứu công nghệ, nhưng liệu công nghệ có thể thăm dò chúng ta không?” và “Liệu chúng ta có thể thiết kế ra một căn phòng để khiến bạn sáng tạo hơn không?”
Những suy nghĩ của ông bắt nguồn từ lĩnh vực điều khiển học, một cách tiếp cận liên ngành với tính phức hợp của các hệ thống động lực như thành phố, sinh vật sống, gia đình và các mạng lưới máy tính. Dù chỉ mới xuất hiện kể từ cuối Thế chiến II, lĩnh vực điều khiển học mới mẻ này thực sự có tầm ảnh hưởng trong giới học thuật vào cuối những năm 1960, như một phản ứng với sự cứng nhắc rõ rệt của xã hội công nghiệp.
Hồi đầu sự nghiệp làm bác sĩ ở Washington, Brodey lần đầu áp dụng điều khiển học với gia đình. Ông nhìn nhận gia đình là một hệ thống có những lực nội tại riêng nhưng đồng thời cũng chịu ảnh hưởng từ các hệ thống bên ngoài: Người cha hoặc người mẹ nếu mà gặp vấn đề ở chỗ làm thì sẽ gây rắc rối ở nhà.
Để theo đuổi lĩnh vực này, vào năm 1965, Brodey rời bỏ công việc hậu hĩnh để nhận một công việc không được trả lương tại MIT – vào thời điểm đó nơi đây là trung tâm hàng đầu nghiên cứu về điều khiển học và trí tuệ nhân tạo. Sau này, ông nhận được kinh phí thông qua tài trợ từ NASA.
Giống như nhiều người xung quanh ở Cambridge, Massachusetts, Brodey tin rằng những bước phát triển nhanh chóng trong công nghệ điện toán thể hiện một lựa chọn: Những bước tiến này có thể được dùng để củng cố xã hội như vốn dĩ, hoặc chúng có thể nâng cao tiềm năng của con người theo những hướng mang tính cách mạng.
Ví dụ, ông phản đối cách tiếp cận của TS. Minsky và nhiều người khác khi họ xây dựng trí tuệ nhân tạo dựa trên việc xử lý tệp dữ liệu khổng lồ. Vào thời điểm ấy, điều này dường như loại trừ một AI thay thế có thể học và phát triển – đồng thời giúp con người cũng làm vậy.
“Cho đến nay, chúng ta đã không mang lại cho môi trường sống của mình tính linh hoạt sáng tạo này. Trí tuệ mà chúng ta thường có được lại không có tính sáng tạo, ngu ngốc và phần lớn mang tính thù địch với sức khỏe tinh thần của con người. Chúng ta đã cho phép những cỗ máy cứng nhắc phát triển tràn lan và kiểm soát chúng ta”.
Nhưng Brodey không hoàn toàn bi quan thất vọng. Cùng năm đó ông có bài phát biểu tại buổi hội nghị về công nghệ số và sáng tạo tại xưởng của nghệ sĩ Robert Rauschenberg tại trung tâm thành phố Manhattan. Brodey nói với khán giả rằng các công nghệ mới “mang lại một tiềm năng mới để sống trong một môi trường được cá nhân hóa nếu chúng ta có thể suy nghĩ thoát ra cách tư duy sản xuất hàng loạt cũ kỹ”.
Năm 1967, với tài trợ từ một người bạn giàu có, Brodey cùng nhà nghiên cứu Avery Johnson thành lập Phòng thí nghiệm Sinh thái Môi trường. Tại đây, họ phát triển những khái niệm “kiến trúc mềm” và “vật liệu mềm” có thể tương tác với con người mà Brodey nghĩ ra: các bề mặt cao su chứa khí freon sẽ thay đổi hình dạng theo nhiệt độ cơ thể và một “bộ đồ khiêu vũ” thay đổi âm nhạc dựa trên các bước di chuyển của người dùng. Ý tưởng ở đây là tạo ra môi trường phát triển với người dùng, theo hướng thúc đẩy người dùng cũng phát triển theo.
Tuy phòng thí nghiệm này không bao giờ sản xuất được một sản phẩm thương mại, song tư tưởng của hai người đàn ông này đã bắt đầu tạo ảnh hưởng ở nhiều ngóc ngách trong giới học thuật tại Boston, nơi các nhà nghiên cứu đang thảo luận những câu hỏi nền tảng tương tự với những làn sóng công nghệ sắp tới. TS. Brodley cùng nhiều người khác tin rằng kỷ nguyên công nghệ đã chứng kiến con người phải điều chỉnh theo sự phục vụ của máy móc; và họ tự hỏi, trong thời đại thông tin, liệu mối quan hệ này có thể đảo ngược?
Khi tiền tài trợ cho phòng thí nghiệm cạn kiệt, TS. Brodey và TS. Johnson dời trụ sở sang một khu dân cư khỏa thân ở Milford, New Hampshire. Tại đây, họ khởi động lại công việc dưới cái tên Công cụ và Đồ chơi Sinh thái. Trong số các dự án của họ có một ngôi nhà được tạo thành từ bóng bao phủ trong lớp bọt xốp và một bằng sáng chế cho các vật liệu kiểm soát mềm mại. Mặc dù, một lần nữa, không có dự án nào đi vào sản xuất.
Tới năm 1972, TS. Brodey trở nên thất vọng và chán nản với nước Mỹ. Ông nhận định rõ ràng là các tập đoàn sẽ không bao giờ ủng hộ công nghệ mang tính biến đổi mà ông hình dung; cùng thời gian đó, với phong trào hippie suy tàn và cuộc chiến tại Việt Nam vẫn tiếp tục, ông mất niềm tin rằng thay đổi sẽ đến sớm.
Sau này ông chuyển tới Na Uy, thành lập nhóm Đoàn kết Chống lại Phân biệt đối xử nhằm phản đối làn sóng tân Phát xít đang lên ở nước này. Ông đi dạy tại Đại học Công nghệ ở Oslo, tiếp tục ủng hộ những công nghệ sẽ nâng cao tính sáng tạo của con người.
Trong vài năm trở lại đây, TS. Brodey trở nên lạc quan một cách thận trọng về sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Mặc dù chúng được xây dựng trên các loại mô hình ngôn ngữ lớn mà TS. Minsky hẳn sẽ ủng hộ, TS. Brodey tin rằng đây có thể là loại công nghệ “mềm”, nâng cao tính sáng tạo mà ông hằng mơ ước.
Nguồn: nytimes.com