Công trình của tiến sĩ Robert K. Jarvik và một nhóm các nhà khoa học ở Đại học Utah đã dẫn đến sự ra đời của một trái tim cơ học vĩnh viễn cấy ghép cho người đầu tiên - thủ thuật này đã khiến công chúng chú ý và gây tranh cãi kịch liệt về đạo đức y khoa. Sau này, nhiều bệnh nhân đã dùng nó trong thời gian chờ ghép tim.

Năm 1982, Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ cấp phép cho Đại học Utah cấy một thiết bị mới trên người: một trái tim nhân tạo vĩnh cửu. Vào ngày 2/12 năm đó, TS. William C. DeVries đã dẫn dắt một đội ngũ phẫu thuật tiên phong cấy ghép mô hình tim Jarvik-7 làm bằng nhôm và nhựa cho nha sĩ Barney B. Clark, 61 tuổi, sống ở Seattle.

Ban đầu, ông Clark từ chối ghép Jarvik-7, nhưng rồi đã đổi ý vào dịp lễ Tạ ơn sau khi phải nhờ con trai bế đến bàn ăn. Căn bệnh tim mãn tính khiến Clark chỉ còn sống thêm được vài tuần nữa. Ông nói với bác sĩ rằng nếu ca phẫu thuật không thành công, thì có lẽ nó sẽ giúp ích cho những người khác. Trong ca phẫu thuật kéo dài tới bảy tiếng đồng hồ, các cơ tim của bác sĩ Clark đã rách như tờ khăn giấy khi được lấy ra sau nhiều năm điều trị bằng steroid.

Bác sĩ Clark sống thêm được 112 ngày, phải gắn liền với một máy nén khí nặng gần 182 kg, kích cỡ gần bằng một máy rửa bát. Nhờ nó mà quả tim nhân tạo Jarvik-7 bơm máu đi khắp cơ thể người bệnh. Nhưng ông cũng chẳng thể rời bệnh viện và phải trải qua những cơn co giật, suy thận và vỡ van tim cần thay thế.

Vào năm 2012, TS. DeVries cho biết bác sĩ Clark có thể đã dùng quá nhiều kháng sinh, điều này khiến việc chống lại nhiễm trùng trở nên khó khăn hơn. Ông qua đời ngày 23/3/1983 do các biến chứng liên quan tới nhiễm trùng đại tràng do vi khuẩn.

William J. Schroeder, 52 tuổi, một công nhân liên bang nghỉ hưu, là bệnh nhân thứ hai nhận quả tim nhân tạo Jarvik-7 thử nghiệm. Ông sống được 620 ngày trước khi qua đời vào năm 1986. Một người cấy ghép Jarvik-7 khác là Murray P. Haydon sống được 488 ngày trước khi mất ở tuổi 59.

Việc những người này sống sót một thời gian sau khi cấy ghép chứng minh rằng con người “có thể sống lâu dài nhờ một thiết bị bằng nhựa và kim loại” – tờ The New York Times đưa tin về cái chết của ông Schroeder. Tuy nhiên, tờ báo này nói thêm rằng những cơn đột quỵ và các biến chứng khác mà người được ghép phải chịu đựng “đã làm suy giảm chất lượng cuộc sống của họ và mài mòn niềm hứng khởi ban đầu đối với quả tim”.

Hàng chục phóng viên (một số nguồn cho rằng có đến hàng trăm người) đã đổ về Đại học Utah để lấy tin về ca phẫu thuật của Barney Clark. Một số người ăn mừng vì tin tức và so sánh thành tựu đột phá này với bước chân đầu tiên của con người trên Mặt trăng. Tuy nhiên, có những người khác lại lên tiếng chỉ trích những khía cạnh mà họ cho là giống như câu chuyện “Frankenstein” của Jarvik-7 và đặt ra câu hỏi là liệu đội ngũ y khoa có đang cố đóng vai Chúa cứu thế khi quyết định ai sẽ được nhận quả tim nhân tạo hay không.

Tiến sĩ Robert Jarvik (1946-2025). Nguồn: Getty Images
Tiến sĩ Robert Jarvik (1946-2025). Nguồn: Getty Images

Vào giữa những năm 1980, các nhà đạo đức y khoa và các nhà thần học nổ ra tranh cãi về việc trái tim nhân tạo có giúp cuộc sống của con người tốt đẹp hơn hay là kéo dài cơn suy sụp đau đớn đến chết. Trong hội nghị chuyên đề gồm các chức sắc tôn giáo và bác sĩ được tổ chức vào năm 1985 ở Louisville, bang Kentucky, một nhà thần học dòng Tên đã lưu ý rằng trong quan điểm của Kitô giáo, “sự sống là cái thiện cơ bản nhưng không phải cái thiện tuyệt đối”, đồng thời nói thêm rằng “Có một giới hạn về những điều chúng ta được phép làm để giữ gìn sự sống của mình”.

Sau khi năm bệnh nhân ghép Jarvik-7 làm quả tim nhân tạo vĩnh viễn, hàng trăm người bệnh đã cấy ghép tạm thời thiết bị này, cho đến khi họ nhận được quả tim hiến tặng. Một bệnh nhân trong số đó đã sống được 11 năm sau khi nhận tim hiến tặng, một người khác sống thêm 14 năm.

Vào tháng 1/1990, Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm đã rút lại giấy phép của Jarvik-7 do những lo ngại về khả năng kiểm soát chất lượng của nhà sản xuất.

Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1989 với Tạp chí Đại học Syracuse, TS. Jarvik thừa nhận việc ông tin rằng Jarvik-7 đủ tiên tiến để sử dụng phổ biến và dùng vĩnh viễn “có thể là sai lầm lớn nhất mà tôi từng phạm phải”.

Tuy nhiên, ông vẫn lên tiếng bảo vệ giá trị của thiết bị, khi chia sẻ với tạp chí về năm người ghép Jarvik-7 vĩnh viễn: “Đây là những người mà tôi cho rằng đã được kéo dài tuổi thọ”. Trung bình những người này sống thêm được chín tháng trong khi có người được cho là “không sống quá một tuần”.

Robert Koffler Jarvik sinh vào ngày 11/5/1946. Cha ông, Norman, là bác sĩ mở phòng khám đa khoa. Còn người mẹ, Edythe (Koffler) Jarvik, phụ trách sắp xếp lịch hẹn cho phòng khám và sau này dạy đánh máy.

Từ khi còn nhỏ, Robert đã thích hí hoáy chế tạo đồ vật. Tới tuổi thiếu niên, ông tự chế mặt nạ khúc côn cầu cho mình và bắt đầu phát triển máy ghim kim bấm phẫu thuật. Ông học tại Đại học Syracuse từ năm 1964 đến năm 1968. Ban đầu, Robert dự định học ngành kiến trúc. Nhưng sau khi cha ông vượt qua căn bệnh phình động mạch chủ, ông chuyển hướng quan tâm sang y học và lấy được bằng về động vật học. Sau cùng, cha ông vẫn bị căn bệnh này cướp đi sinh mệnh khi tái phát lần hai vào năm 1976.

“Tôi biết cha mình sẽ qua đời vì bệnh tim, và tôi đã cố gắng tạo ra một trái tim cho ông ấy. Nhưng tôi đã quá chậm” – TS. Robert Jarvik hồi tưởng.

Ông học y tại Đại học Bologna (Italy) trong hai năm và nhận bằng thạc sĩ về cơ sinh học trong môi trường công việc (occupational biomechanics) từ Đại học New York, trước khi chuyển tới Đại học Utah vào năm 1971. Tại đây, ông lấy bằng y vào năm 1976, nhưng không đi theo con đường nghề nghiệp truyền thống là thực tập và nội trú. Ông quan tâm hơn tới việc phát triển một quả tim nhân tạo.

Làm việc với TS. Willem J. Kolff - Giám đốc Khoa Nội tạng Nhân tạo của trường đại học, TS. Jarvik đã thiết kế ra một loại trái tim cơ học. Một trong số đó đã được cấy cho một con bò tên Alfred Lord Tennyson. Con bò này đã sống được 268 ngày sau đó, một kỷ lục đối với động vật.
Vào cuối những năm 1980, công ty của ông là Jarvik Heart Inc. bắt đầu phát triển các công cụ nhỏ hơn, ít ảnh hưởng tới sinh hoạt của người bệnh hơn là thiết bị hỗ trợ tâm thất. Không giống Jarvik-7, những thiết bị này không thay thế quả tim bị bệnh mà hỗ trợ bơm máu từ các buồng tim dưới đến phần còn lại của cơ thể. Một thiết bị như vậy, mẫu Jarvik 2000, chỉ nhỏ bằng viên pin cỡ trung bình. Một phiên bản dành cho bệnh nhi là Jarvik 2015 có kích cỡ bằng viên pin tiểu AA.

Theo nghiên cứu về thị trường tim nhân tạo năm 2023, phiên bản kế thừa Jarvik-7 được gọi là Tim nhân tạo toàn phần SynCardia (hiện nay thuộc một công ty khác). Thiết bị này được thiết kế chủ yếu để dùng tạm thời cho những bệnh nhân cận kề cái chết trong khi chờ ghép tim. Nghiên cứu cho thấy hơn 1.700 bệnh nhân trên toàn thế giới đã ghép thiết bị này.

Năm 2018, TS. Jarvik nhận được giải thưởng Thành tựu trọn đời tại lễ trao giải Thiết kế Y khoa Xuất sắc thường niên. Những đóng góp đột phá của Jarvik đã thay đổi việc chăm sóc bệnh nhân suy tim.

Nguồn:

nytimes

Bài đăng KH&PT số 1354 (số 30/2025)