Ngành y tế Việt Nam đặt mục tiêu tiết kiệm 24 triệu USD mỗi năm thông qua việc chia sẻ kết quả xét nghiệm.

Hệ thống y tế chỉ có thể thực hiện liên thông dữ liệu khi năng lực xét nghiệm của các đơn vị tương đương về chất lượng. Ảnh: LD
Hệ thống y tế chỉ có thể thực hiện liên thông dữ liệu khi năng lực xét nghiệm của các đơn vị tương đương về chất lượng. Ảnh: Báo Lâm Đồng

Vũ Hà, một nhân viên văn phòng ở Hà Nội, nhớ như in cảm giác khi nhận hóa đơn xét nghiệm tại bệnh viện: hàng loạt con số dán dày trên tờ giấy, mà nhiều hạng mục cô chưa kịp hiểu. “Sao lại phải làm lại xét nghiệm này nữa nhỉ?” – cô tự hỏi, trong khi vài tuần trước, kết quả tương tự đã được một phòng khám khác cung cấp. Câu chuyện của Hà không hiếm do hệ thống y tế chưa kết nối dữ liệu giữa các cơ sở.

Bộ Y tế đang tìm cách thay đổi điều này. Chỉ cần tái sử dụng 1–2% kết quả xét nghiệm hiện có, cả nước có thể tiết kiệm từ 300–600 tỷ đồng mỗi năm, đồng thời giúp bác sĩ chẩn đoán nhanh hơn, chính xác hơn và giảm áp lực cho bệnh nhân.

Tại Hội nghị Khoa học thường niên 2025 của Tổng hội Y học Việt Nam hôm 24/10, TS. Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, nhấn mạnh: “Mặc dù không phải tất cả xét nghiệm đều có thể tái sử dụng, nhưng những xét nghiệm đủ điều kiện nếu được kết nối và chia sẻ, sẽ giúp bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính xác hơn, đồng thời giảm chi phí lặp lại cho bệnh nhân.”

Cụ thể, Bộ Y tế đang hướng tới một hệ thống y tế số hóa, trong đó kết quả xét nghiệm và hồ sơ bệnh án điện tử được liên thông trên toàn quốc. Mỗi phòng xét nghiệm phải công khai mức độ chất lượng theo tiêu chuẩn của Bộ, các bệnh viện áp dụng mã hóa dùng chung và tích hợp hồ sơ điện tử.

Các nhà quản lý cũng đặt mục tiêu đẩy nhanh lộ trình triển khai bệnh án điện tử và liên thông kết quả xét nghiệm trên VNeID để giảm các chi phí lãng phí.

Nhờ đó, người bệnh như Hà sẽ không còn phải lo lắng vì “làm đi làm lại” xét nghiệm, mà vẫn nhận được chẩn đoán có độ tin cậy. Trong trường hợp kết quả xét nghiệm không thể sử dụng lại được thì việc tích hợp thông tin xét nghiệm cũ vào hồ sơ bệnh án điện tử của mỗi người cũng là một kênh thông tin tham khảo hữu ích để bác sĩ có thể biết được tình trạng người bệnh trước đó, các chỉ số thay đổi ra sao để có nhận định chính xác hơn.

Tuy nhiên, quá trình này không hề dễ dàng. Chi phí đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, vận hành hệ thống và bảo mật dữ liệu vẫn cao, trong khi mức phí dịch vụ bảo hiểm y tế hiện tại chưa bao gồm những khoản này. Các bệnh viện tự chủ tài chính đang nỗ lực đề xuất với Bộ Y tế đưa những chi phí này vào danh mục chi trả. Trong tương lai, những chi phí này có thể được đưa vào giá dịch vụ y tế, nhưng việc xác định cơ cấu chi phí sẽ tương đối phức tạp.

Một vấn đề đáng chú ý khác là chất lượng xét nghiệm. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 3.000 phòng xét nghiệm y tế, nhưng Bộ Y tế cho biết chỉ hơn 16% trong số đó đã được kiểm chuẩn và công nhận (đạt ISO 15189:2012). Mỗi phòng xét nghiệm lại có đội ngũ nhân lực, quy trình lấy mẫu, trang thiết bị, hóa chất, máy móc và kỹ thuật khác nhau. Trình độ chuyên môn không đồng đều giữa các phòng xét nghiệm dẫn đến kết quả có thể chênh lệch đáng kể.

Vì bác sĩ điều trị phải chịu trách nhiệm trước bệnh nhân của mình nên không khó hiểu khi bác sĩ tuyến trên thường không tin tưởng kết quả xét nghiệm của tuyến dưới, nhất là với các ca nặng chuyển tuyến. Nếu không xét nghiệm lại, họ sẽ thiếu căn cứ để xây dựng phác đồ điều trị. Trong trường hợp xảy ra sự cố khi điều trị hay phẫu thuật, câu hỏi “ai chịu trách nhiệm?” sẽ trở nên khó trả lời. Chỉ có một số ít bệnh viện lớn tuyến Trung ương mới công nhận một vài kết quả xét nghiệm của các bệnh viện lớn có cùng cấp độ tương đương.

xét nghiệm
Có khoảng 14 xét nghiệm máu có thể chia sẻ kết quả trong vòng 5 ngày. Ảnh: IST

Từ năm 2017, Bộ Y tế đã có quy định công nhận kết quả xét nghiệm giữa các cơ sở y tế cho 65 chỉ số xét nghiệm có thể tái sử dụng trong vòng từ 2-5 ngày, hoặc tùy thuộc vào bệnh lý, diễn biến lâm sàng của người bệnh. Nhưng chừng nào các phòng xét nghiệm chưa cùng quy chuẩn, chừng đó việc liên thông kết quả vẫn còn khó khăn.

Hơn nữa, hệ thống y tế vẫn luôn thiếu vắng một nền tảng chung để chia sẻ thông tin - điều mà giờ đây đang được lấp đầy bằng việc tích hợp hồ sơ y tế lên nền tảng định danh VNeID. Tuy nhiên, chuyển dữ liệu y tế lên VNeID đồng nghĩa với việc phải đối mặt với thách thức không nhỏ là bảo mật tuyệt đối. Thông tin y tế là dữ liệu nhạy cảm nhất trong mọi loại dữ liệu cá nhân. Việc chia sẻ phải đi kèm với các chuẩn an ninh mạng chặt chẽ, phân quyền truy cập nghiêm ngặt và cơ chế kiểm soát minh bạch.

Nhìn chung số hóa y tế không chỉ là chuyện cài đặt phần mềm, mà là một hành trình phức tạp xây dựng niềm tin giữa người bệnh với hệ thống, giữa bác sĩ với dữ liệu mà họ dựa vào. Niềm tin rằng thông tin y tế của bệnh nhân là chính xác, được bảo vệ an toàn, được sử dụng đúng mục đích và thực sự phục vụ cho sức khỏe cộng đồng.

Câu chuyện về chia sẻ kết quả xét nghiệm tưởng chừng nhỏ nhặt này đã phản ánh phần nào nỗi chật vật của một hệ thống y tế đang chuyển mình sang kỷ nguyên số. Nếu tận dụng tốt nguồn dữ liệu đang có, Việt Nam không chỉ tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng mỗi năm, mà còn tiến gần hơn tới một hệ thống y tế cá thể hóa – nơi mỗi người được chăm sóc dựa trên dữ liệu chính xác của chính họ.

Bài đăng KH&PT số 1368 (số 44/2025)