Ô nhiễm không khí ở Hà Nội đã trở thành một cuộc khủng hoảng sức khỏe nghiêm trọng. Nhưng Hà Nội không thể tự cứu mình trong một vấn đề có tính liên vùng và xuyên biên giới.

Ảnh: Shutterstock.
Ảnh: Shutterstock.

Cuộc khủng hoảng sức khỏe

6 - 7 giờ sáng, Hà Nội chìm trong một lớp sương xám đục. Những người đi làm sớm không biết đó là sương hay bụi, chỉ thấy lớp màn mỏng luẩn quẩn quanh mặt như khói đốt rơm rạ. Nhưng thứ hít vào phổi không phải sương, mà là bụi PM2.5 - loại hạt mịn có thể đi sâu tới tận mao mạch phổi.

Các tỉnh miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng đang trong đợt ô nhiễm không khí thứ ba kể từ đầu mùa, theo mô hình dự báo chất lượng không khí ứng dụng trí tuệ nhân tạo củanhóm nghiên cứu GEOI, trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Suốt hai tuần liên tiếp, chỉ số chất lượng không khí (AQI) của các tỉnh xung quanh thủ đô dao động ở ngưỡng Trung bình (51-100), nghĩa là ô nhiễm không khí bắt đầu ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người già, trẻ em, phụ nữ mang thai và làm những người có bệnh nền hô hấp hoặc tim mạch có nguy cơ tăng nặng v.v, trong khi Hà Nội liên tục ở mức Kém (101-150), tức ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của nhóm có sức khỏe yếu và bắt đầu ảnh hưởng tới sức khỏe của người khỏe mạnh.

Dữ liệu từ chỉ số AQI kể một câu chuyện dài mà người dân Hà Nội đã sống, đã chịu đựng lặp đi lặp lại mỗi mùa đông - còn được gọi là mùa ô nhiễm - thường kéo dài từ tháng mười đến tháng ba năm sau. Chúng cho biết mọi người đang phải đối phó với nguy cơ gì, và thậm chí có thể “dịch” những nguy cơ đó thành chi phí cá nhân.

Trong năm năm qua, nội dung các cuộc thảo luận về ô nhiễm không khí đã thay đổi. Nó không còn chỉ là một vấn đề môi trường chung chung, mà là một cuộc khủng hoảng sức khỏe cấp bách mà mỗi người đều cảm nhận được ngay khi hít thở. Các tổ chức y tế lớn trên thế giới đã gióng lên hồi chuông cảnh báo: khi đã ô nhiễm nặng nề, chỉ nguyên việc hít thở thôi, cũng bị đánh đổi bằng nhiều năm tuổi thọ và sức khỏe của con người.

Nghiên cứu của trường Đại học Y tế Công cộng ước tính việc tiếp xúc lâu dài với không khí ô nhiễm có thể đã gây ra khoảng 56.800 ca tử vong sớm mỗi năm ở Việt Nam – tức chiếm đến 1/10 số ca tử vong do nguyên nhân tự nhiên trong nước, sau khi đã loại bỏ hết các nguyên nhân tử vong khác. Riêng ở Hà Nội là khoảng 6.700 ca mỗi năm, cao nhất cả nước.

Nhưng với nhiều người, tử vong dường như là một khái niệm xa xôi trước một kẻ thù vô hình và dai dẳng như ô nhiễm không khí. Khác với các nguy cơ cấp tính, phần lớn chúng ta vẫn xem ô nhiễm không khí là mối đe dọa mơ hồ - gặp đâu tránh đó và có thể trì hoãn - chứ chưa coi là ưu tiên hàng đầu cần phải hành động ngay. Tuy vậy, ngay cả khi chưa gây tử vong, ô nhiễm không khí vẫn gây hại rất rõ ràng.

Các nghiên cứu phân tích y tế ở Hà Nội cho thấy số trẻ em nhập viện vì bệnh hô hấp tăng lên mỗi khi nồng độ PM2.5 trong không khí tăng, dù là trong ngày hay vài ngày trước đó. Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng ngay cả mức ô nhiễm nhỏ cũng đủ khiến điểm kiểm tra của học sinh tiểu học ở đô thị giảm. Chẳng hạn, nếu trung bình các em đạt 8 điểm môn Toán trong điều kiện không khí sạch, thì trong những ngày ô nhiễm nặng, điểm số có thể giảm xuống còn khoảng 7,5 điểm. Hạt bụi mịn có thể ảnh hưởng đến khả năng chú ý và ghi nhớ, gây mệt mỏi, đau đầu, hoặc làm nặng thêm các bệnh hô hấp… khiến trẻ dễ phải nghỉ học và khó tập trung khi học.

Vì ở Việt Nam vẫn còn ít nghiên cứu về tác động của ô nhiễm không khí lên cộng đồng, chúng ta có thể tham khảo thêm các nghiên cứu quốc tế để thấy mức độ ảnh hưởng - nhưng những ví dụ này chỉ có ý nghĩa khi cơ chế tác động tương đồng với bối cảnh Việt Nam.

Ở Trung Quốc, tương đối giống Việt Nam khi người dân cũng phải đối mặt với 4-5 đợt nghịch nhiệt mỗi tuần, nghiên cứu cho thấy tình trạng nghịch nhiệt thường xuyên làm gia tăng đột ngột nồng độ PM2.5, làm tăng ca nhập viện liên quan đến hô hấp và tim mạch sau đợt nghịch nhiệt. Thậm chí đã có nghiên cứu chỉ ra ô nhiễm trong các đợt nghịch nhiệt làm tăng áp lực lên sức khỏe tâm thần và tâm lý hành vi của người dân.

Bủa vây trong ô nhiễm không khí, mỗi người dân nhỏ bé chỉ có thể cố gắng thoát khỏi vòng ảnh hưởng bằng những biện pháp cá nhân như đeo khẩu trang, đóng kín cửa, bật máy lọc không khí… Nhưng đó chỉ là những động tác cầm cự, giúp giảm phơi nhiễm trong phạm vi rất nhỏ, không thể làm thay đổi chất lượng không khí bên ngoài.

Không thể đơn thương độc mã

Nhiều người Hà Nội đã bức xúc khi nghe tin về các đợt ô nhiễm lặp lại năm này qua năm khác trên báo đài: “Chả làm gì được ngoài nhịn thở.” Cảm giác bất lực càng lớn khi nỗ lực cá nhân nhỏ bé chẳng thể nào bù nổi khoảng trống có tính hệ thống.

Để thay đổi, những biện pháp quan trọng nhất phải đến từ quy hoạch, từ chính sách công của Hà Nội. Nhưng Hà Nội có thể giải quyết được vấn đề trong phạm vi của mình không?

Trong vài năm gần đây, Hà Nội đã triển khai nhiều nỗ lực nhằm cải thiện chất lượng không khí. Vấn đề ô nhiễm không khí được ưu tiên giải quyết tới mức có hẳn nội dung quản lý không khí trong Luật Bảo vệ Môi trường (2020) và Luật Thủ đô (2024), cùng với một chương trình hành động về không khí sạch được UBND thành phố khởi xướng năm ngoái. Các giải pháp trước đó chủ yếu mới dừng lại ở việc hạn chế các nguồn phát thải nhỏ, phát thải tại chỗ, phát thải gần như bếp than tổ ong hay đốt rơm rạ.

Trong đợt ô nhiễm này, chính quyền Hà Nội cũng đưa ra một số hành động mang tính can thiệp sâu hơn như phân luồng giao thông; tăng cường kiểm tra xe tải, xe máy cũ đi trong nội đô thành phố; xử lý việc đốt chất thải trái phép v.v. Tuy nhiên, các biện pháp đó làm giảm bụi to (PM10) và Nitơ Đioxit (NO2) hơn là vấn đề cốt lõi của Hà Nội là PM2.5 - nhỏ hơn, độc hơn và khó kiểm soát hơn.


2/3 lượng bụi PM2.5 ở Hà Nội đến từ các nguồn phát thải tầm xa bên ngoài thành phố, bao gồm các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Hưng Yên, vùng Đồng bằng sông Hồng, thậm chí từ các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, và các nguồn tự nhiên như núi lửa, cháy rừngở quy mô lớn.


Nguyên nhân khiến Hà Nội trở thành thủ đô ô nhiễm là do hội tụ nhiều yếu tố, bao gồm khói thải công nghiệp, làng nghề; hoạt động giao thông vận tải; xây dựng; việc đốt rơm rạ của nông dân ở khu vực ngoại thành và các tỉnh lân cận v.v.

Với các nguồn phát thải lớn như công nghiệp, giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch, và hệ thống lò đốt vẫn chưa có lộ trình giảm phát thải rõ ràng, cũng chưa có cơ chế ràng buộc trách nhiệm cụ thể. Thậm chí cơ chế ràng buộc ở nội đô (chẳng hạn như cấm xe chạy xăng trong nội đô thời gian tới) chưa rõ có thể giải quyết được gốc rễ phát thải từ giao thông không. Vì đã có nghiên cứu chỉ ra phát thải PM2.5 ở Hà Nội chủ yếu đến từ khu vực Hà Nội 2 chứ không phải vùng lõi nội thành.

Quan trọng hơn, 2/3 lượng bụi PM2.5 ở Hà Nội đến từ các nguồn phát thải tầm xa bên ngoài thành phố, bao gồm các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Hưng Yên, vùng Đồng bằng sông Hồng, thậm chí từ các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, và các nguồn tự nhiên như núi lửa, cháy rừng ở quy mô lớn. Do vậy, những can thiệp trong nội bộ thành phố chỉ giúp giảm thiểu được một phần nhỏ của vấn đề.

Như vậy những nguồn thải lớn, phức tạp, xa hơn vẫn còn … chờ thời gian, nguồn lực và cơ chế mới giải quyết được. Cũng giống như những nỗ lực của từng cá nhân dù cần thiết nhưng quá nhỏ bé, thì nỗ lực ở nội đô không thể bù lại ô nhiễm xuất phát từ cả một vùng phát thải rộng lớn. Có những nguồn thải vượt quá khả năng giải quyết của riêng Hà Nội.

Tất nhiên không chỉ có Hà Nội tìm cách ứng phó. Trong đợt ô nhiễm này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có công văn tới các bộ ngành để giảm ảnh hưởng của các nguồn thải đối với Hà Nội. Các nhà máy được “đề nghị” giảm công suất hoặc điều chỉnh kế hoạch sản xuất sang thời điểm điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi hơn. Các công trình xây dựng được khuyến cáo “xem xét” tạm dừng các hạng mục thi công phát sinh bụi lớn. Điều này không phải lúc nào cũng khả thi vì các nhà máy và công trình có quy mô rất lớn, không thể cứ bật-tắt theo dự báo 1-2 ngày. Họ cũng không có trách nhiệm với vấn đề ô nhiễm.

Nhưng ngay cả vậy, các giải pháp đưa ra trong đợt ô nhiễm chủ yếu để đối phó với tình huống bất lợi, không phải chiến lược dài hạn để đối phó với nồng độ PM2.5 đang tích tụ.

Để đối phó với vấn đề liên tỉnh, liên vùng này, Hà Nội không thể đơn thương độc mã, mà buộc phải xây dựng một cơ chế phối hợp chung với các tỉnh lân cận để xây dựng các chính sách mạnh và đầu tư lớn cho những thay đổi mang tính nền tảng. Đó phải là những cam kết dài hạn như nâng cấp công nghệ hoặc chuyển đổi nhiên liệu cho các ngành công nghiệp, hệ thống lò đốt bao quanh vùng Thủ đô, đã cho thấy giúp giảm 50-60% phát thải ở các thành phố tương tự như khu vực Bắc Kinh-Thiên Tân-Hà Bắc (2013-2023).

Tương tự, đối với các làng nghề tái chế - một trong những tác nhân gây ô nhiễm không khí nặng nề mà các chuyên gia môi trường đã cảnh báo từ lâu nhưng chịu ít sự quản thúc của các quy định môi trường như các nhà máy – cũng cần có lộ trình chuyển đổi bắt buộc.

Giao thông cần giảm số lượng phương tiện dùng nhiên liệu hóa thạch, chứ không chỉ dựa vào các bộ lọc khí thải tốt hơn. Nhiều thành phố trên thế giới cho thấy những biện pháp hiệu quả nhất thường là mở rộng hệ thống giao thông công cộng sử dụng nhiên liệu sạch, hoặc thúc đẩy điện khí hóa phương tiện cá nhân. Một lựa chọn khác là mô hình “vùng phát thải thấp” - khu vực hạn chế phương tiện gây ô nhiễm để cải thiện chất lượng không khí. Những thay thế này, nếu được thực hiện tốt tại Hà Nội, sẽ làm giảm đáng kể lượng phát thải.

Không khí là thứ chung. Vì vậy, chỉ có những chính sách chung - và sự hợp tác ở quy mô đủ lớn - mới có thể giúp Hà Nội thở sạch hơn.

Bài đăng KH&PT số 1373 (số 49/2025)