Cái ác luôn là một thách đố đối với mọi hệ tư tưởng. Nó cũng là một thách đố đối với mọi sự hiện hữu, bởi cái ác vừa là tội lỗi vừa là đau khổ, và do con người gây ra cho con người.

Paul Ricoeur (1913-2005) là một trong số ít triết gia của thế kỷ XX đặt vấn đề cái ác vào trung tâm của một dự án triết học dài hơi, liên tục được bổ sung và cấu trúc lại. Với ông, cái ác không chỉ là vấn đề của triết học đạo đức hay thần học, mà trước hết là một trải nghiệm sống, một sự thử thách tới tận nền tảng của hiện hữu. Ricoeur không tiếp cận cái ác theo lối siêu hình học cổ điển (như Augustin), không theo hướng duy lý (như Kant), và cũng không đi theo con đường phi lý tính (như Camus hay Kierkegaard). Thay vào đó, ông tìm kiếm một cấu trúc hiện tượng học của cái ác, nơi các cấp độ kinh nghiệm, hành vi, biểu tượng, huyền thoại hay tự sự đều tham gia vào việc tạo nên ý nghĩa. Và điều mà Ricoeur quan tâm nhất không phải “cái ác là gì” mà cái ác xuất hiện như thế nào, nó biểu hiện ra sao trong kinh nghiệm sống và trong diễn giải của con người.

Trong tác phẩm Philosophie de la volonté (Triết học về ý chí, gồm hai tập, được xuất bản lần lượt vào năm 1950 và 1960), Ricoeur bắt đầu từ một cấu trúc hiện tượng học: ý chí. Con người “muốn”: muốn hành động, muốn hiện hữu, muốn trở thành tự do. Thế nhưng, ngay khi hiện tượng học mô tả ý chí, nó đã vấp phải một giới hạn, bởi vì mỗi hành động đều chứa trong nó một khả thể (tôi có thể) và một bất khả thể (tôi không thể). Ricoeur gọi đó là tính mong manh, dễ gãy đổ của chủ thể. Và chính lằn ranh mong manh này đã tạo ra điều kiện để cái ác xâm nhập vào kinh nghiệm người.

Theo Ricoeur, con người có thể gây ra cái ác vì họ có khả năng hành động. Một nhận xét thực sự gây sốc bởi như vậy, khả năng hành động - trong suy nghĩ thông thường, vốn là trung tâm của tự do - qua phân tích của Ricoeur lại chứa mầm mống của cái ác. Nói một cách rõ ràng hơn, cái ác không đến từ “bên ngoài”, nó đến từ cấu trúc nội tại của chủ thể, tức là mầm mống của cái ác luôn hiện diện ngấm ngầm trong mỗi chúng ta. Cái ác không phải là một thành tố của thế giới, một “bản thể” theo nghĩa một bản tính tự nhiên mà ngược lại, đến từ hệ vấn đề của sự tự do. Một kết luận thực sự gây sốc của Paul Ricoeur!

Nhiều năm sau, trong cuốn sách mỏng Le mal: Un défi à la philosophie et à la théologie (Cái ác: Một thách thức đối với triết học và thần học, 1986), Ricoeur phác họa bức tranh toàn cảnh để làm nổi bật sự phức tạp của vấn đề. Cuốn sách được chia thành ba phần, trong đó ở phần một, ông cho rằng cần phải giải phóng cái ác khỏi lớp vỏ bọc mà người ta gọi là “cái ác nói chung”. Điều này có nghĩa là phải chống lại xu hướng đặt “cái ác luân lý” và “cái ác thể chất” dưới cùng một danh mục. Về phía cái ác luân lý, các điều kiện đã quá quen thuộc: trước hết phải có một tác nhân có thể bị coi là chịu trách nhiệm - đó là thời điểm của việc quy trách nhiệm; tiếp đến là sự vi phạm đối với một bộ quy tắc đạo đức đã được cộng đồng thừa nhận - đó là thời điểm của sự buộc tội; và cuối cùng là việc áp dụng một lời tuyên phạt - đó là thời điểm của hình phạt, mà ta đừng quên, vốn bắt người ta phải chịu đau đớn. Về phần cái ác thể chất (liên quan đến sự khốn cùng, đau đớn, và nạn nhân), các điều kiện lại khác đi: tương ứng với quy trách nhiệm là nỗi chịu đựng; đối diện với buộc tội là nạn nhân; đối diện với sự khiển trách và hình phạt là lời van xintiếng rên la oán thán (và thái độ tự trách tội bản thân). Cái ác thể chất có ý nghĩa triết học và thần học hoàn toàn khác với cái ác luân lý, nó không liên quan gì đến “ tội lỗi” và không thể giải thích bằng các lý thuyết đạo đức. Theo quan điểm của Ricoeur, việc trộn lẫn hai dạng cái ác này gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nếu như cái ác luân lý thường gắn bó chặt chẽ với các khái niệm tự do, hành động, trách nhiệm, tội lỗi thì trong cái ác thể chất, theo truyền thống “thưởng-phạt”, nạn nhân thường nghĩ rằng “tôi đau đớn, tôi bị hành hạ là bởi vì tôi đã làm điều gì đó sai trái”. Điều này thường khiến nạn nhân tự buộc tội, tự hủy hoại và nó là sự sai lạc cả về đạo đức lẫn tâm linh.

Vậy tại sao lại có sự lẫn lộn giữa hai trải nghiệm này, dẫu rằng chúng khác nhau đến vậy, như Ricoeur đã băn khoăn: “Bất chấp sự phân cực không thể chối cãi này, điều gì đã khiến cho triết học và thần học suy tưởng về cái ác như là nguồn cội chung của tội lỗi và đau khổ” (Cái ác, tr. 35). Phải chăng vì hai trải nghiệm này đan xen vào nhau một cách kỳ lạ?

Hai hình thức của cái ác đã gắn chặt vào nhau đến mức mà Ricoeur tin rằng phải đào bới sâu hơn nữa để tìm ra lý do thực sự của sự tái tạo bất tận tính thống nhất của hai loại cái ác này. Mọi sự đã diễn ra như thể chính những sức mạnh quỷ quái giống nhau sản sinh đồng thời cả hành động làm điều ác và hành động chịu đựng điều ác, như thể cái ác là một huyền nhiệm, mà nơi đó ta chỉ thấy trồi lên hai mảnh vỡ: cái hành động tàn ác và cái hành động chịu đau khổ. Hai hình thức của cái ác đã gắn chặt vào nhau đến mức khiến chúng ta luôn bối rối khi đặt ra câu hỏi: đâu mới là phần thực sự thuộc về cái ác thể chất, nếu con người muốn loại bỏ số lượng khủng khiếp những đau khổ mà họ gây ra cho nhau.

Để trả lời cho câu hỏi trên, trong phần hai của cuốn sách, Ricoeur đã tiến hành phân tích những cấp độ diễn ngôn về cái ác đã từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại. Ông chỉ ra năm cấp độ tương ứng với năm giai đoạn lịch sử của các diễn ngôn: thần thoại, minh triết, thuyết ngộ đạo, biện thần luận, triết học phê phán và phép biện chứng. Nhưng trong suốt chiều dài lịch sử tư tưởng của mình, con người nhận ra rằng càng tăng cường những nỗ lực tư duy, họ càng thấy rõ hơn sự bất lực khi tiếp cận để mổ xẻ hay phân tích cái ác bằng con đường suy tưởng hay tư biện đơn thuần.

Nguồn: Netabook.
Cuốn sách của Paul Ricoeur đã được xuất bản ở Việt Nam qua bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn. Nguồn: Netabook.

Ngay từ khi bắt đầu hành trình triết học, Ricoeur đã nhận diện được tất cả những thứ chướng ngại khiến người ta sẽ gục ngã trên đường truy tìm chân lý về cái ác và ông tin rằng một diễn giải hữu ích phải đi theo con đường vòng. Bức màn sương mù mờ ảo bao phủ cái ác (cái ác thể chất, điều ác phạm phải, điều ác cam chịu, cái ác có mầm mống trong lòng sự tự do…) chính là một bức tường đã chặn đứng mọi nỗ lực của tư tưởng muốn xác lập sự mạch lạc logic xác tín về cái ác.

Cái ác cũng không thể được soi chiếu bằng lý trí giống như các học thuyết thần học đã nỗ lực làm. Nhưng cái bế tắc trên con đường tư duy, theo Ricoeur, không hẳn là cái bế tắc trên mọi phương diện. Trong phần ba cuốn sách, ông kết luận, cái ác không phải là một vấn đề chỉ có tính tư biện mà nó đòi hỏi sự hội tụ giữa suy tư, hành động và cảm thụ tâm linh. Về suy tư, thay vì cổ vũ cho việc suy tư nhiều hơn nữa như các hệ tư tưởng trước đây vẫn gắng gỏi làm, Ricoeur đề xuất một cách tư duy khác đi, phân tích dựa trên hiện tượng học kết hợp với thông diễn học (herméneutique) để làm sáng tỏ các biểu tượng, huyền thoại và cả chính lý tính về cái ác. Về hành động, ông cho rằng “Cái ác là tất cả những gì không được phép tồn tại mà phải đấu tranh chống lại chúng” và “hành động nào, dù mang tính đạo đức hoặc chính trị, giảm thiểu bạo lực do người này gây ra cho người khác, cũng sẽ giảm thiểu mức độ đau khổ trong thế giới”. (Cái ác, tr. 73). Sự sát cánh của suy tư, hành động và cảm thụ có thể mở ra bước chuyển hóa đến sự hiền minh, giúp chúng ta thoát khỏi vòng tuần hoàn của sự đáp trả vốn gắn liền với cách hành xử với cái ác và sự đau khổ.

Như vậy có thể thấy rằng triết học về cái ác của Paul Ricoeur không nhằm tới việc đưa ra một định nghĩa hay một hệ thống triết học mới, bởi ông tin rằng cái ác là một hiện tượng luôn vượt ra ngoài khả năng nắm bắt của lý trí. Khi lý trí cố hiểu về cái ác, nó chỉ có thể hiểu được một phần, và luôn có những phần còn lại - “phần dư thừa ý nghĩa” - những thứ không thể đặt trong bất kỳ khung lý thuyết nào và nằm ngoài mọi khả năng diễn giải.

Vậy thì đâu là đóng góp của triết học về cái ác của Paul Ricoeur? Tư tưởng của ông nhằm giúp cho con người hiểu chính bản thân, hiểu rằng mọi nỗi đau đều không phải là chặng cuối cùng của cuộc đời. Ông cũng hướng cho con người cách để sống tiếp sau khi cái ác đã đi qua và tàn phá cuộc đời mình, cách nuôi dưỡng hy vọng như một năng lực sống, một cách bảo tồn bản sắc sau những đổ vỡ (giống như trường hợp của cá nhân ông sau những tấn bi kịch gia đình). Vì thế triết học về cái ác của ông - trải dài hơn nửa thế kỷ tư duy - có thể tóm lược trong một câu duy nhất: triết học không xóa bỏ hay chấm dứt cái ác, nó trao cho chúng ta một công cụ để sống một cuộc đời có ý nghĩa trong một một thế giới bất toàn, để mỗi khi phải đối mặt với cái ác, chúng ta sẽ không cho phép nó hủy diệt mình.


Từ những công trình đầu tiên nhằm xây dựng hiện tượng học của ý chí cho đến bản thảo cuối cùng còn dang dở về cái chết, Paul Ricoeur đã liên tục suy tư về vấn đề cái ác. Thế nhưng trong đời sống riêng tư, một thử thách khủng khiếp đã giáng xuống ông: cái chết tự sát của một người con trai. Trong Réflexion faite (Suy ngẫm, 1995), một tác phẩm mang tính tự truyện, ông đã viết: “Ít ngày sau […] cú sét đã giáng xuống và làm rạn nứt toàn bộ đời sống chúng tôi: vụ tự sát của người con trai thứ tư […]. Tôi tìm được chút nương tựa ở một tiểu luận mà tôi đã viết vào mùa thu trước đó và được xuất bản không lâu sau tấn bi kịch này; tiểu luận có tựa đề Cái ác: Một thách thức đối với triết học và thần học… nơi tôi đã cố gắng diễn đạt những nghịch lý do cái ác đau khổ khơi lên và vốn bị các lý thuyết thần học che khuất; trong văn bản này, ở phần kết, tôi đã phác họa những chặng đường của sự chấp nhận và minh triết... Thật bất ngờ sau biến cố cá nhân ấy, tôi bỗng nhận ra rằng bản thân mình là người đầu tiên cần tiếp nhận những suy tưởng quyết liệt ấy.” (tr. 79–80)


Bài đăng KH&PT số 1373 (số 49/2025)