Hiếm có giải thưởng nào thu hút sự chú ý trên toàn thế giới như giải Nobel. Trong mắt công chúng, giải Nobel, đặc biệt là trong ba lĩnh vực khoa học truyền thống là hóa học, vật lý và y sinh, gần như minh chứng về sự xuất sắc của các nhà khoa học.
Tuy nhiên, không ít người sau khi đoạt giải Nobel lại đưa ra những quan điểm kỳ lạ và phi khoa học. Thậm chí, có một thuật ngữ là “bệnh Nobel” (Nobel disease) hay “Nobelitis” để mô tả hiện tượng này. Chẳng hạn, một số nhà khoa học nổi tiếng sau khi đoạt giải Nobel đã quan tâm đến nghiên cứu tâm linh, ngoại cảm, thậm chí có người tin rằng đã gặp một con gấu mèo biết nói, đi xe máy và phát ra ánh sáng màu xanh lá cây.
Một số nhà nghiên cứu (Berezow 2016) cho rằng những người đoạt giải Nobel trong các lĩnh vực khoa học dễ mắc lỗi tư duy phản biện hơn các nhà khoa học khác. “Chưa rõ liệu điều này có đúng hay không, và có lẽ vẫn cần thêm dữ liệu nghiên cứu để xác minh nhận định này”, TS. Scott O. Lilienfeld ở Đại học Emory và các cộng sự viết trong bài báo “The Nobel disease: When intelligence fails to protect against irrationality” trên tạp chí Skeptical Inquirer. Tuy nhiên, “nhiều trường hợp mắc ‘bệnh Nobel’ cho thấy người thông minh cũng gặp vấn đề về tư duy phản biện”.
Trong cuốn “Tư duy phản biện trong tâm lý học”, các tác giả đã liệt kê nhiều trường hợp mắc “bệnh Nobel”. Một số người đã có những quan điểm ngụy khoa học nguy hiểm, chẳng hạn như phân biệt về chủng tộc và trí thông minh, trong khi nhiều nhà khoa học khác lại có “bệnh Nobel” đầy hài hước.
Chẳng hạn nhà vật lý người Pháp Pierre Curie từng giành giải Nobel Vật lý năm 1903 cho việc phát hiện ra radium và polonium, đã tham gia vào các buổi cầu hồn và tin rằng việc nghiên cứu các hiện tượng huyền bí có thể giải đáp các vấn đề liên quan đến từ tính. Tương tự, nhà vật lý người Anh Joseph Thomson từng đoạt giải Nobel Vật lý năm 1906 cho khám phá về electron, cũng quan tâm đến các hiện tượng tâm linh và là thành viên của Hiệp hội Nghiên cứu tâm linh trong 34 năm.
Trong khi đó, nhà sinh lý học người Pháp Charles Richet được trao giải Nobel Y sinh năm 1913, đã sáng tạo ra từ “ngoại chất” (ectoplasm) để chỉ những thứ được trục xuất từ các nhà ngoại cảm trong các buổi cầu hồn. Thực ra đó chỉ là một trò lừa bịp. Helen Duncan, một nhà ngoại cảm nổi tiếng người Scotland bị vạch trần đã sử dụng các chiêu trò này, nuốt các miếng vải voan rồi nôn ra theo yêu cầu, đôi khi còn gắn thêm găng tay cao su hoặc các tấm chân dung trên tạp chí để trông ma quái hơn.
Tuy nhiên, nhiều trường hợp mắc “bệnh Nobel” có thể gây nguy hiểm cho xã hội. Richard Smalley, người đã giành giải Nobel Hóa học vì phát hiện ra fullerene (dạng phân tử bền thứ ba của carbon sau kim cương và than chì) vào năm 1996, đã phản đối thuyết tiến hóa, trong khi nhiều người khác lại ủng hộ thuyết ưu sinh, phẫu thuật thùy não và các ý tưởng, phương pháp sai lầm khác liên quan đến chứng tự kỷ.
Sau khi đoạt giải Nobel, một số nhà khoa học đã đưa ra những quan điểm sai lệch mang tính phân biệt chủng tộc. Chẳng hạn, nhà vật lý người Mỹ William Shockley (1910–1989) từng đoạt giải Nobel Vật lý năm 1956 cho sáng chế bóng bán dẫn. Shockley cho rằng người da trắng thông minh hơn người da đen. Ông viết: “Nguyên nhân chính gây ra những khiếm khuyết về trí tuệ và xã hội của người Mỹ da đen là do di truyền và do chủng tộc, nên không thể khắc phục được bằng những cải thiện môi trường” (New Scientist 1973, 432). Shockley cho rằng người da đen sinh sản nhanh hơn người da trắng, làm suy giảm trí thông minh tổng thể của dân số. Với niềm tin này, Shockley đã thúc đẩy nhiều “giải pháp” như hỗ trợ tài chính để triệt sản các nhóm yếu thế về mặt di truyền. Tương tự, nhà sinh học phân tử người Mỹ James Watson từng đoạt giải Nobel năm 1962 nhờ khám phá cấu trúc DNA, khẳng định người da đen kém thông minh hơn người da trắng.
Trong khi đó, nhà khoa học người Mỹ Kary Mullis – cha đẻ của phương pháp xét nghiệm PCR, từng đoạt giải Nobel Hóa học vào năm 1993 lại có những quan điểm vô cùng kỳ lạ trong nhiều lĩnh vực. Sau khi giành giải thưởng Nobel, ông bày tỏ sự hoài nghi về biến đổi khí hậu, cho rằng virus HIV không gây ra bệnh AIDS, và tin vào chiêm tinh học. Ngoài ra, ông còn tuyên bố đã nói chuyện với một con gấu mèo phát sáng.
“Tôi đã gặp một con gấu mèo xanh lá cây phát sáng đang lái một chiếc xe máy màu cam neon tại căn nhà của tôi trong khu rừng ở miền Bắc California vào khoảng nửa đêm năm 1985”, Mullis kể lại. “Con gấu mèo đã biến thành một con cá heo biết hát vào đúng lúc nửa đêm”.
Tại sao rất nhiều người đoạt giải Nobel lại có những niềm tin ngụy khoa học như vậy? Theo nhà di truyền học người Anh Paul Nurse, từng đoạt giải Nobel Y sinh năm 2001, một phần có thể là do áp lực từ bên ngoài - từ giới truyền thông và công chúng, thúc đẩy những người đoạt giải bước ra khỏi lĩnh vực chuyên môn của họ.
“Trong mắt nhiều người, tôi bỗng chốc trở thành chuyên gia hàng đầu thế giới về hầu hết mọi thứ. Điều này thực sự gây sốc. Không phải do tôi là người quá khiêm tốn, tôi cũng hiểu biết về sinh học và khoa học nói chung, nhưng tôi không phải là chuyên gia về mọi thứ”, Nurse giải thích trong một bài viết trên Independent, và ông khuyên các nhà khoa học phải hết sức cẩn trọng.
“Bạn sẽ nhận được vô vàn đề nghị bình luận về nhiều vấn đề, ký thư từ, kiến nghị, nói chung là cho mượn tên tuổi của mình cho nhiều mục đích”, ông nói. “Nhưng đừng để bị cám dỗ đi quá xa khỏi kiến thức chuyên môn của mình hoặc khoa học nói chung”.
“Bằng chứng sơ bộ cho thấy những người thông minh có điểm mù thiên kiến lớn hơn một chút so với những người khác, tức là họ khó nhận thức được khuynh hướng thiên kiến của mình. Hoặc một số người cảm thấy bản thân toàn trí (omniscience) vì tin rằng mình thông minh đến mức biết hết mọi thứ, không bao giờ sai lầm” theo TS. Scott O. Lilienfeld. “Dữ liệu cho thấy các nhà khoa học có tính sáng tạo cao thường tự tin hơn các nhà khoa học khác (Feist 1998), sự khiêm tốn về trí tuệ có thể là điều hiếm gặp hơn ở những người từng đoạt giải Nobel trong lĩnh vực khoa học. Do vậy, các nhà khoa học đoạt giải Nobel có lẽ nên cảnh giác với việc vượt quá giới hạn trí tuệ - cho rằng vì mình là chuyên gia trong lĩnh vực này nên cũng có thể thể hiện trình độ chuyên môn tương đương trong các lĩnh vực khác (Dubner 2014)”.
“Dù còn hạn chế, nghiên cứu về các trường hợp mắc ‘bệnh Nobel’ của chúng tôi nhấn mạnh rằng không nên nhầm lẫn giữa trí thông minh với sự lý trí, hay sự tự tin với sự đúng đắn”, O. Lilienfeld và các cộng sự viết. “Ngoài ra, chúng ta cũng nên cẩn trọng, đừng ngại ngần hoài nghi ngay cả những tuyên bố của các nhà khoa học lỗi lạc nhất”.
Nguồn: IFL Science, Skeptical Inquirer