Việc đặt cạnh nhau hai tác phẩm tưởng như xa lạ và không tương thích từng được xem là bất khả thi trong việc tìm kiếm tiếng nói chung giữa chúng. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của mô hình cận kề, cách tiếp cận này không chỉ khả thi mà còn mở ra những tầng nghĩa hàm ẩn, sâu xa, thậm chí tạo ra các diễn giải mới mẻ.

Văn học so sánh, với tư cách là một khoa học nghiên cứu văn học và các hình thức văn hóa thuộc ngôn ngữ khác nhau, đã được thực hành từ khá lâu ở Việt Nam. Có thể thấy, các nhà nghiên cứu Việt Nam chú trọng nhiều hơn đến mối liên hệ lịch sử giữa các tác phẩm được đem ra để so sánh và chú trọng vào bối cảnh lịch sử - xã hội gắn liền với sự ra đời và sinh tồn của chúng. Hay nói cách khác, xu hướng bối cảnh hóa (contextualization) - đặt tác phẩm trong bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn bản gắn liền với nó - vẫn là cơ sở của so sánh văn học được tiếp nhận và nghiên cứu tại Việt Nam. Thực tế này đặt ra yêu cầu về một hướng tiếp nhận khác cho văn học so sánh.

Xuất phát từ tinh thần “giải thuộc địa” trong văn học so sánh từ những năm đầu của thế kỉ XXI, chuyên khảo Văn học so sánh và phê bình hậu thuộc địa: Mô hình cận kề (lý thuyết và thực nghiệm) của PGS.TS. Phạm Phương Chi và các cộng sự không chỉ đem đến một cái nhìn khác - cách nhìn hậu thuộc địa - đối với văn học so sánh trên phương diện mục tiêu (không truy tìm ảnh hưởng - vay mượn) và phương pháp (không đối chiếu theo tuyến tính, không áp chuẩn phương Tây), mà còn đề cập một mô hình hoàn toàn mới về mặt lý thuyết và thực hành trong bối cảnh văn học so sánh ở Việt Nam: mô hình cận kề.

Chuyên khảo của PGS.TS. Phạm Phương Chi và các cộng sự đề cập một mô hình hoàn toàn mới về mặt lý thuyết và thực hành trong bối cảnh văn học so sánh ở Việt Nam. Nguồn: PPC
Chuyên khảo của PGS.TS. Phạm Phương Chi và các cộng sự được xuất bản vào đầu năm 2025. Nguồn: PPC

Mô hình cận kề là lối tiếp cận đặt hai hoặc nhiều văn bản “xa lạ” bên nhau không phải vì chúng có cùng nguồn gốc, bối cảnh hay ảnh hưởng qua lại mà vì sự cọ xát đó sẽ làm bật lên những tầng ý nghĩa mới, sâu hơn, bất ngờ hơn. Trên cơ sở đề xuất những lý thuyết mới về mô hình cận kề và ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn đọc - giải mã tác phẩm, chuyên khảo được chia thành hai phần, phản ánh hai hướng triển khai song song: lý thuyết và thực nghiệm.

Điểm nổi bật của phần lý thuyết là việc tác giả Phạm Phương Chi chủ động đặt văn học so sánh Việt Nam vào tương quan đối chiếu với sự phát triển của ngành học này trên thế giới. Đây không chỉ là một hành động khảo cứu mà còn là một hình thức tự phản biện để nhìn lại những giới hạn về phương pháp và tư duy của chính giới nghiên cứu trong nước. Qua đó, cuốn sách chỉ ra rằng, văn học so sánh ở Việt Nam chủ yếu gắn liền với xu hướng bối cảnh hóa, vốn có ưu thế trong việc khảo sát các dòng chảy ảnh hưởng và bối cảnh hình thành văn bản, song cũng dễ rơi vào tư duy tuyến tính, khu biệt và duy thực. Trong khi đó, văn học so sánh thế giới, đặc biệt là khu vực học thuật phương Tây, từ đầu thế kỷ XXI đã có những chuyển dịch đáng kể dưới ảnh hưởng của lý thuyết hậu thuộc địa, vốn chủ trương chất vấn các hệ hình tri thức mang tính đế quốc, phân tầng văn hóa và áp đặt trung tâm - ngoại biên. Sự khác biệt này phản ánh một khoảng cách trong định hướng tư duy nghiên cứu. Ở Việt Nam, xu hướng bối cảnh hóa phần nào vẫn chịu ảnh hưởng từ quan niệm nhị nguyên: giữa “ta” và “kẻ khác”, “trung tâm” và “ngoại biên”, “cái của ta” và “cái của người”, “ở đây” và “ở kia”. Đây là kiểu đối lập từng được sản sinh và củng cố trong tiến trình hậu thuộc địa nhưng cũng chính là thứ mà phê bình hậu thuộc địa hiện đại đang tìm cách tháo gỡ. Trong bối cảnh đó, mô hình cận kề được cuốn sách đề xuất như một giải pháp mới: không truy tìm những tương đồng đã có, không phân tách ranh giới chủ – khách, mà đặt các văn bản cạnh nhau trong sự va chạm ngẫu nhiên, mở ra khả năng kiến tạo nghĩa mới thông qua đối thoại, lệch pha và thậm chí là xung đột.

Cuốn sách đã chỉ ra một cách đầy đủ và có hệ thống các vấn đề về giải thuộc địa, hậu thuộc địa cũng như xem xét tinh thần giải thuộc địa (thể hiện sự chấm dứt hoàn toàn vị trí thống trị của văn hóa và tri thức phương Tây khi tìm hiểu các nền văn hóa ngoài phương Tây) - của mô hình cận kề. Điểm nổi bật của cuốn sách đó là đã ứng dụng mô hình cận kề để thử nghiệm đặt cạnh nhau các tác phẩm xa lạ về lịch sử, không gian, thể loại và loại hình, từ đó tìm hiểu các ý nghĩa được nảy sinh trong sự tương tác, liên hệ giữa chúng. Một số tác phẩm đến từ những nền văn học khác nhau, có độ vênh rất lớn về địa lý, lịch sử, văn hóa, đề tài, thể loại, chủ đề và tư tưởng nhưng những khác biệt ngẫu nhiên đó không ngăn cản các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm những nét tương đồng độc đáo và mối tương quan kì lạ giữa các tác phẩm.

Với 11 trường hợp được tiến hành nghiên cứu, các tác giả đã cho thấy nỗ lực của mình trong việc tìm kiếm những kết nối và thông giao tiềm ẩn giữa các tác phẩm, bất kể chúng đến từ quốc gia nào và có vị trí như thế nào trong nền văn học dân tộc hay văn học thế giới. Đặc biệt là các trường hợp ứng dụng mô hình cận kề khi so sánh, đặt cạnh các tác phẩm văn học Việt Nam với các tác phẩm văn học thế giới, vốn dĩ rất xa lạ và mơ hồ khi tìm kiếm những nét tương đồng giữa chúng. Có thể kể đến trường hợp đặt cạnh nhau Dưới bóng hoàng lan (1942) của Thạch Lam và Những quả táo Antonov (1900) của Ivan Bunnin để tìm hiểu về những nét tương đồng tiềm ẩn giữa những miền thôn dã ở phương Đông; hay trường hợp đặt cạnh nhau thế giới tự nhiên trong phim Chuyện của Pao (Ngô Quang Hải) và Into the wild (Sean Penn) để hiển lộ rõ hơn những tương đồng về mặt mỹ cảm. Nhìn chung, các tác phẩm đều không có mối liên hệ công khai hay ngầm ẩn nào về không gian, thời gian hay cốt truyện. Nhưng khi chúng được bóc tách ra khỏi bối cảnh truyền thống về địa lý, lịch sử, văn hóa để đặt vào một bối cảnh mới hứa hẹn những sự va chạm, tương tác, đôi khi không loại trừ cả sự đối nghịch thì những cách đọc, cách diễn giải về chúng ít nhiều bị phá vỡ. Ngoài ra, còn nhiều trường hợp khác với đa dạng vấn đề được tiến hành nghiên cứu, như trường hợp đặt cạnh nhau tác phẩm Tầm gửi (2005) của Oksana Robski (Nga) và Không trái tim (1917) của Yi Kwang-su; Mặt trời vẫn mọc của Emest Hemingway và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; Căn phòng tối (1938) của R.K.Narayan và Người tung hứng (1990 ) của Rachilde,…

Có thể nói, chuyên khảo Văn học so sánh và phê bình hậu thuộc địa: Mô hình cận kề (lý thuyết và thể nghiệm) do PGS. TS. Phạm Phương Chi chủ biên không chỉ góp phần mở rộng không gian tiếp nhận văn học so sánh tại Việt Nam mà còn gợi mở một tinh thần học thuật phản biện, giải phóng khỏi lối tư duy khu biệt. Mô hình cận kề, với khả năng tạo nghĩa từ sự “va chạm” và “khác biệt”, hứa hẹn sẽ là công cụ quan trọng cho các nhà nghiên cứu văn học trong thời đại toàn cầu hóa và liên văn hóa hiện nay.

Bài đăng KH&PT số 1352 (số 28/2025)