Lễ Tạ ơn ngày nay đã che đậy lịch sử đàn áp đẫm máu - nền tảng mối quan hệ giữa những người di cư từ châu Âu và người Mỹ bản địa.
Trên khắp nước Mỹ, tháng 11 đồng nghĩa với việc chuẩn bị cho lễ Tạ ơn. Ngoài những bữa tiệc mừng với món gà tây ở các gia đình, trong các buổi lễ Tạ ơn được tổ chức tại các trường học, trẻ em đội mũ lông vũ mua ở cửa hàng thủ công. Đây là một truyền thống gợi nhớ đến câu chuyện lịch sử đã được kể qua nhiều thế hệ: người Mỹ bản địa chào đón những người Anh di cư tiên phong dũng cảm. Theo đó, vào năm 1621, những người Anh di cư đến Plymouth và người bản địa Wampanoag đã cùng nhau tổ chức một bữa tiệc ăn mừng vụ thu hoạch mùa thu.
Trong hơn hai thế kỷ, ngày lễ Tạ ơn đã được tổ chức tại các thuộc địa và tiểu bang riêng lẻ. Đến năm 1863, giữa cuộc nội chiến Mỹ, Tổng thống Abraham Lincoln tuyên bố ngày lễ Tạ ơn quốc gia được tổ chức vào thứ Năm cuối cùng của tháng 11. Người Mỹ đã cùng nhau kỷ niệm ngày lễ này kể từ đó.
Tuy nhiên, đằng sau lễ Tạ ơn là một lịch sử đầy tranh cãi. Nhiều người Mỹ - bao gồm hậu duệ của người Mỹ bản địa, cho rằng việc kỷ niệm lễ Tạ ơn hiện nay đã che đậy lịch sử áp bức đẫm máu đã xây dựng nền tảng mối quan hệ giữa những người định cư châu Âu và người Mỹ bản địa.
“Phần lớn câu chuyện về lễ Tạ ơn hiện nay là một huyền thoại đầy rẫy những thông tin không chính xác về mặt lịch sử”, David Silverman, giáo sư tại Đại học George Washington, tác giả cuốn This Land Is Their Land: The Wampanoag Indians, Plymouth Colony, and the Troubled History of Thanksgiving, nhận xét. “Việc tiếp tục lưu truyền những điều sai lệch như vậy gây tổn hại sâu sắc cho người Mỹ bản địa - cộng đồng của họ đã bị hủy hoại vĩnh viễn sau khi người Anh di cư đến nơi đây”.
Plymouth và câu chuyện phổ biến vềlễ Tạ ơn
Vào tháng 9 năm 1620, một con tàu nhỏ có tên Mayflower rời Plymouth, Anh, chở theo 102 hành khách, hầu hết là những người muốn ly khai với Giáo hội Anh và đang tìm kiếm một quê hương mới, nơi họ có thể tự do thực hành đức tin của mình. Một số người khác kỳ vọng về sự giàu có và cơ hội sở hữu đất đai ở Tân Thế giới cũng gia nhập chuyến vượt biển. Sau hành trình đầy nguy hiểm và khó khăn kéo dài 66 ngày, họ thả neo gần mũi Cape Cod, cách xa điểm đến dự định tại cửa sông Hudson. Một tháng sau, tàu Mayflower băng qua vịnh Massachusetts, những người di cư, sau này thường được gọi là người hành hương (Pilgrims),bắt đầu khai phá vùng đất mới mà họ đổi tên thành Plymouth (Massachusetts).
Trong mùa đông khắc nghiệt đầu tiên, phần lớn những người di cư vẫn ở trên tàu, chịu ảnh hưởng nặng nề từ bệnh scorbut (bệnh do thiếu hụt vitamin C, người bệnh thường dễ bị chảy máu, loét miệng dẫn đến mệt mỏi thiếu máu) và các đợt bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm. Chỉ một nửa hành khách và thủy thủ đoàn của tàu Mayflower sống sót qua mùa đông để chứng kiến mùa xuân đầu tiên tại vùng đất mới. Đến tháng 3, họ di chuyển lên bờ, được một thành viên của bộ tộc Abenaki đến thăm và chào đón bằng tiếng Anh.
Vài ngày sau, người này quay lại cùng với một thành viên của bộ tộc Pawtuxet tên là Squanto.Ông từng bị một thuyền trưởng người Anh bắt cóc, bị bán làm nô lệ, rồi trốn thoát đến London và trở về quê hương trong một đoàn thám hiểm. Ông đã dạy những người di cư, vốn đang suy yếu vì bệnh tật và suy dinh dưỡng, cách trồng ngô, lấy nhựa cây phong, bắt cá ở sông, phân biệt những loại cây độc. Ông cũng giúp những người di cư xây dựng liên minh với Wampanoag, một bộ tộc địa phương. Liên minh này đã tồn tại hơn 50 năm và là một trong số ít ví dụ về sự hòa hợp giữa những người thực dân châu Âu và người Mỹ bản địa.
Vào tháng 11 năm 1621, sau vụ thu hoạch ngô thành công đầu tiên của những người hành hương, thống đốc đầu tiên của thuộc địa Plymouth, William Bradford đã tổ chức một bữa tiệc ăn mừng và mời một nhóm đồng minh người Mỹ bản địa, bao gồm cả tù trưởng Wampanoag Massasoit. Lễ hội kéo dài ba ngày này hiện được coi là “lễ Tạ ơn đầu tiên” của nước Mỹ - mặc dù những người hành hương có thể không sử dụng thuật ngữ này vào thời điểm đó.
Những góc khuất lịch sử
Tuy nhiên, những gì xảy ra bốn tháng sau đó, bắt đầu vào tháng 3/1622, cách Plymouth khoảng 600 dặm về phía Nam, phản ánh rõ hơn về ngày lễ Tạ ơn cũng như nguồn gốc của nước Mỹ - không phải là câu chuyện về sự chung sống hòa bình mà là về sự ngờ vực, di dời và đàn áp.
Câu chuyện bắt nguồn từ ngành trồng thuốc lá ở Virginia. Từ năm 1607, những người di cư đã hình thành khu định cư Jamestown ở Virginia - khu định cư lâu dài đầu tiên của người Anh ở châu Mỹ. Vào giữa những năm 1610, một người Anh tên là John Rolfe đã trồng thuốc lá trên vùng đất màu mỡ trong khu vực. Ngành trồng thuốc lá nhanh chóng phát triển.
Năm 1607, Wahunsonacock, thủ lĩnh của liên minh người bản địa gọi là Tsenacomoco, đã thành lập một liên minh gồm khoảng 30 cộng đồng riêng biệt dọc theo các nhánh của Vịnh Chesapeake. Người Anh gọi ông là Powhatan và gọi những người theo ông là người Powhatan.
Mặc dù kiểm soát hầu hết tài nguyên trong khu vực, Wahunsonacock không hề gây khó dễ cho người Anh. Năm 1608, khi những người di cư mới đến gần như chết đói, người Powhatan đã cung cấp lương thực cho họ. Wahunsonacock cũng tha mạng cho Đại úy John Smith - nhà thám hiểm, thống đốc thuộc địa Virginia, khi bị người của ông bắt giữ. Hành động của Wahunsonacock đã bộc lộ tư duy chiến lược: thay vì coi những người di cư là thượng đẳng, ông cho rằng người Anh có thể trở thành một cộng đồng phụ thuộc nằm dưới quyền kiểm soát của mình.
Sau cuộc chiến từ năm 1609 đến năm 1614 giữa người Anh và người Powhatan, Wahunsonacock và các đồng minh đã đồng ý chung sống hòa bình. Wahunsonacock qua đời năm 1618. Thủ lĩnh mới của người Powhatan là Opechancanough.
Khác với người tiền nhiệm, Opechancanough nhìn người Anh với ánh mắt nghi ngờ, đặc biệt là khi họ tiến vào vùng đất Powhatan để mở rộng các cánh đồng thuốc lá. Sau một thời gian dài chịu đựng, đến mùa xuân năm 1622, Opechancanough đã tiến hành một cuộc tấn công bất ngờ và giết chết 347 người Anh.
Chỉ trong vòng vài tháng, tin tức về vụ việc đã lan truyền khắp nước Anh. Edward Waterhouse, thư ký của Công ty Virginia ở London, đã kể lại chi tiết về “vụ thảm sát man rợ” trong một cuốn sách. Ông thề sẽ trả thù cho những người đã chết “dưới bàn tay đẫm máu và man rợ của những kẻ phản bội và vô nhân đạo đó”. Trong thập kỷ tiếp theo, quân đội Anh đã phát động một cuộc chiến tàn bạo chống lại người Powhatan, nhiều lần đốt cháy các cánh đồng của người Powhatan vào mùa thu hoạch nhằm khiến họ chết đói và đuổi họ đi.
Cuộc tấn công của người Powhatan là khởi đầu của nhiều cuộc nổi loạn khác của người bản địa chống lại thực dân châu Âu hung hăng ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17. Với người Anh, bất kỳ dấu hiệu phản kháng nào của “những kẻ ngoại đạo” này đều phải dập tắt để phục vụ mục tiêu của người châu Âu - từ cải đạo người Mỹ bản địa sang Cơ đốc giáo cho đến chiếm đoạt đất đai và khai thác sản xuất tại đây để đáp ứng nhu cầu hàng hóa ở châu Âu.
Đến năm 1675, căng thẳng bùng nổ thành một cuộc chiến lan rộng khắp khu vực. Đây là một trong những cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử Mỹ. Năm 1970, nhân dịp kỷ niệm 350 năm ngày tàu Mayflower cập bến, Wamsutta, một bô lão ở bộ tộc Aquinnah Wampanoag, đã chỉ ra tình trạng cướp đoạt và những cuộc đàn áp bạo lực chống lại cộng đồng bản địa diễn ra qua nhiều thế hệ. Kể từ đó, nhiều người Mỹ bản địa đã coi ngày này là quốc tang thay vì lễ Tạ ơn. “Ngày lễ Tạ ơn là lời nhắc nhở về cuộc diệt chủng hàng triệu người bản địa, sự cướp bóc đất đai của người bản địa, và sự xâm phạm không ngừng nghỉ vào văn hóa bản địa”, Hội Người Mỹ bản địa thống nhất New England cho biết.
Bất kể lịch sử phức tạp của lễ Tạ ơn, nhiều người Mỹ bản địa ngày nay vẫn quây quần bên bạn bè và gia đình, thưởng thức những món ăn ngon (nhiều món ăn truyền thống trong lễ Tạ ơn được lấy cảm hứng từ ẩm thực bản địa) và bày tỏ lòng biết ơn.
“Việc sum họp bên gia đình, tận hưởng thời gian bên nhau, chia sẻ những phước lành và tạ ơn vì tất cả những gì chúng ta có là một điều tốt đẹp. Tôi mong chúng ta sẽ có nhiều dịp tạ ơn như thế này trong năm. Tôi cũng mong mọi người hãy dành một chút thời gian trong ngày hôm đó để tưởng nhớ những gì đã xảy ra với dân tộc tôi trong thực tế, chứ không phải những câu chuyện mà chúng ta đã được nghe trong sách vở”, Steven Peters, phát ngôn viên của bộ tộc Wampanoag, chia sẻ.
Nguồn: The Conversation, Smithsonian Magazine, Delish
Bài đăng KH&PT số 1373 (số 49/2025)