Iain Douglas-Hamilton sinh ngày 16/8/1942 ở Dorset, Anh quốc, là con út trong một gia đình quý tộc Scotland. Ông học ngành động vật học tại Đại học Oxford, ban đầu dự định nghiên cứu sư tử. Nhưng vào năm 23 tuổi, ông chuyển tới Tanzania để tập trung vào loài voi hoang dã ở Vườn quốc gia hồ Manyara.
Tại đây, Douglas-Hamilton bắt đầu xây dựng một bộ hồ sơ toàn diện về mọi con voi mà mình gặp, chụp ảnh mặt chúng, truy tìm dòng giống và lập bản đồ lãnh thổ của voi. Ban đầu, ông dùng số để gán cho chúng. Nhưng khi nghiên cứu bầy voi kỹ lưỡng hơn, học cách nhận diện từng con voi bằng hình dáng đặc trưng của đôi tai cùng những nếp nhăn trên da, ông đặt cho mỗi con một cái tên. Không lâu sau, ông đã có mối quan hệ thân thiết với hàng trăm con voi.
“Bất kỳ ai nghiên cứu loài voi – và chắc chắn điều này đã xảy ra với tôi – sẽ nhận thức rất sâu sắc rằng ta đang tiếp xúc với một loài động vật có tri giác, một loài động vật mà từng cá nhân lại có cách suy nghĩ riêng”, Douglas-Hamilton nói trong “A Life Among Elephants” – bộ phim tài liệu về cuộc đời ông được phát hành năm ngoái.
Ông cho biết những con voi biết đau buồn, chúng có tuổi thọ dài, chúng học hỏi từ những con lớn tuổi hơn và hình thành các đơn vị xã hội phức tạp do những con voi cái khỏe mạnh dẫn dắt. “Ở voi có rất nhiều điểm chung với loài người”, ông nói thêm.
Douglas-Hamilton đã có nhiều đột phá trong việc giải mã giao tiếp của loài voi và hiểu được lựa chọn của chúng khi di chuyển qua địa hình trải rộng trong các nhóm xã hội khác nhau. Ông là một trong những nhà nghiên cứu động vật hoang dã đầu tiên dùng máy bay nhỏ để đếm số lượng voi từ trên không, dẫn tới những khảo sát trên không trên khắp lục địa.
Nhà bảo tồn loài tinh tinh Jane Goodall, người bạn trọn đời của ông, đã gặp ông Douglas-Hamilton trong những năm 1960, khi ông sống ở Tanzania và bắt đầu công trình nghiên cứu đột phá về hành vi của loài voi.
Bà nói trong bộ phim tài liệu: “Tôi nghĩ di sản của anh ấy sẽ là một trong những người đã làm rất nhiều để giúp mọi người hiểu được voi tuyệt vời ra sao và biết nhiều hơn về cuộc sống của chúng. Chắc chắn là di sản của Iain sẽ trường tồn. Chính anh ấy là người khiến thế giới chú ý thấy voi là một loài có tri giác”.
Tuy nhiên, những hiểu biết này không đến một cách dễ dàng: ông bị voi đuổi theo tấn công, suýt chết vì bị một bầy ong tấn công, bị những kẻ săn bắn trộm bắn gục. Năm 2010, một trận lũ đã phá hủy cơ sở nghiên cứu của ông ở Kenya và nhiều năm nghiên cứu đã trôi theo dòng nước.
Dẫu gặp nhiều khó khăn, Douglas-Hamilton vẫn vững vàng với sứ mệnh nâng cao nhận thức về cảnh ngộ của loài voi châu Phi. Ông trở thành một trong những tiếng nói hàng đầu cảnh báo thế giới về cuộc khủng hoảng săn bắn trộm để lấy ngà voi.
Khi nạn săn bắn trộm diễn ra mạnh trong những năm 1970, Douglas-Hamilton chuyển từ nghiên cứu sang bảo vệ loài voi. Ông gọi đây là “một cuộc diệt chủng loài voi”.
Nhận thấy việc bảo tồn cần những con số cụ thể để đối mặt với cuộc khủng hoảng, ông thực hiện nhiều khảo sát trên toàn lục địa và kết quả vô cùng thảm thương: châu Phi đã mất một nửa số voi vì nạn buôn bán ngà. Với những dữ liệu thu thập được, ông mở chiến dịch kêu gọi ban hành lệnh cấm buôn bán ngà voi thương mại quốc tế.
Cố gắng của ông đã góp phần dẫn đến việc ký kết một thỏa thuận quốc tế giữa nhiều chính phủ: Công ước thương mại quốc tế về những loài gặp nguy hiểm ra đời vào năm 1989.
Cũng trong năm này, ông giúp thuyết phục Chính phủ Kenya đốt 12 tấn ngà voi bị tịch thu – một sự kiện ấn tượng thu hút sự chú ý trên toàn thế giới. Năm 1993, ông thành lập tổ chức từ thiện Save the Elephants để bảo vệ loài voi và nâng cao nhận thức của con người về hành vi của chúng.
Douglas-Hamilton không dừng nghiên cứu trong suốt quá trình này, ông còn kết hợp công trình tìm hiểu về loài voi với nỗ lực bảo vệ chúng.
Bắt đầu từ năm 1968, ông hợp tác với các bác sĩ thú y Kenya để gây mê cho các con voi rồi đeo cho chúng vòng cổ phát tín hiệu vô tuyến. Douglas-Hamilton là người đầu tiên sử dụng vòng cổ vô tuyến để lập bản đồ di chuyển chi tiết của loài voi.
Công trình này đã hé lộ các con voi đi theo những con đường đặc thù, chúng lần tìm đường trong các địa hình với trí nhớ đáng kinh ngạc, mỗi con voi lại có cách di chuyển riêng. Chính vì thế, việc chặn những tuyến đường đã kéo dài nhiều thế hệ làm trầm trọng thêm xung đột giữa người và voi. Luận văn tiến sĩ vào năm 1972 của ông đã thiết lập những quy tắc làm nền tảng cho ngành sinh thái học loài voi hiện đại.
Không chỉ vậy, tổ chức Save the Elephants của ông còn cách mạng hóa công cuộc bảo tồn voi bằng việc sử dụng công nghệ theo dõi GPS. Nhờ thế, họ nắm được những dữ liệu quan trọng để chống lại nạn săn bắn trộm, mất môi trường sống và xung đột giữa con người và động vật hoang dã.
Khoảng năm 2010, nạn săn bắn trộm leo thang trở lại. Một số lượng lớn voi tử vong trên khắp châu Phi vì những nguyên nhân bất thường. Đây là dấu hiệu đầu tiên của một cuộc thảm sát trên diện rộng khác.
Nguyên nhân bắt nguồn từ nhu cầu vô độ về trang sức làm từ ngà voi của tầng lớp trung lưu mới nổi khổng lồ của Trung Quốc. Một số vườn quốc gia tuyệt vời của châu Phi đã trở thành vùng chiến khi một đám ô hợp gồm các nhóm nổi loạn, những băng đảng được trang bị vũ khí hạng nặng và binh lính từ những quốc gia được Mỹ tài trợ đã xả súng vào nhiều đàn voi, đôi khi giết cả con non và mẹ của chúng từ trực thăng quân đội.
Douglas-Hamilton nhanh chóng hành động để chống lại tình trạng này. Ông đóng vai trò quan trọng trong Cuộc điều tra lớn quần thể voi, cho thấy quần thể voi đồng cỏ đã giảm 30% chỉ trong vòng bảy năm.
Nhận thấy ngăn chặn từ nguồn là một yếu tố quan trọng để thay đổi cục diện, ông tiến hành nhiều chiến dịch tại Mỹ và Trung Quốc – hai thị trường buôn bán ngà voi chính. Ông giúp đưa Diêu Minh – siêu sao bóng rổ Trung Quốc cùng nhiều người nổi tiếng khác tới Đông Phi và thuyết phục họ trở thành đại sứ cho mục đích này.
Kết quả là, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ lúc đó là Barack Obama đã đồng ý một lệnh cấm gần như hoàn toàn đối với việc xuất-nhập khẩu ngà voi vào năm 2015.
Nỗ lực cuối cùng của Douglas-Hamilton là cố gắng tìm cách bảo vệ động vật hoang dã khi biến đổi khí hậu và sự tăng trưởng dân số đã khiến con người và loài voi sống gần nhau hơn. “Thách thức tiếp theo sẽ là cùng tồn tại, vì sự phát triển của người và động vật song hành cùng nhau. Tôi thực sự khá lạc quan về điều này”, ông cho biết.
Nguồn: nytimes.com, earthranger.com, bbc.com