Cá chạch lấu (Mastacembelus favus) là loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng nhờ thịt thơm ngon, ít xương dăm. Trong vài năm trở lại đây, nhiều địa phương ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ đã phát triển nghề nuôi cá chạch lấu thương phẩm, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Tuy nhiên, nguồn giống cá chạch lấu nhân tạo vẫn còn hạn chế, khiến nghề nuôi chưa phát huy được tiềm năng.
Hoạt động sản xuất giống cá chạch lấu hiện nay vẫn tồn tại một số hạn chế như phụ thuộc vào mùa vụ thành thục (từ tháng 4 - tháng 9 hằng năm) của cá chạch: khi thời tiết lạnh, nhiệt độ sáng chiều chênh lệch cao thì cá chạch giảm ăn, tuyến sinh dục bắt đầu suy thoái dần. Bên cạnh đó, mỗi năm chỉ có một đợt sản xuất giống khiến con giống bị thiếu hụt. Ngoài ra, tình trạng xuất hiện nấm thủy mi trong khâu ấp trứng và ương giống cũng làm ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá bột. Đặc biệt, một số nơi sản xuất cá giống nhân tạo kích thích sinh sản bằng cách tiêm HCG, hormone kích thích quá trình rụng trứng và phóng tinh ở cá bố mẹ, với liều lượng chưa ổn định, khiến tỷ lệ cá đẻ không cao (70–80%).
Khi nở, cá bột được ương trực tiếp trong bể xi-măng hoặc ao đất, không có giá thể trú ẩn. Giai đoạn đầu, cá bột rất nhỏ, yếu và dễ bị cuốn trôi hoặc chết do môi trường không ổn định, tỷ lệ sống thường chỉ đạt khoảng 60–70%, thậm chí thấp hơn nếu gặp mưa lạnh. Việc sử dụng thức ăn cũng chưa hợp lý, gây thiếu dinh dưỡng và ô nhiễm nước.
Nhằm khắc phục những hạn chế trên, Trung tâm nghiên cứu và phát triển Nông nghiệp công nghệ cao TPHCM đã cải tiến quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá chạch lấu, từ khâu nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích sinh sản, đến ấp trứng và ương cá bột.
Cá bố mẹ được chọn là cá khỏe mạnh, không dị tật, trọng lượng 300–500 g/con. Cá được nuôi trong bể xi-măng có hệ thống sục khí, mái che và điều chỉnh nhiệt độ ổn định ở mức 27–32°C. Thức ăn gồm trùn quế, cá tạp xay và thức ăn công nghiệp, giúp cá phát triển tuyến sinh dục tốt. Sau bốn tháng nuôi vỗ, tỷ lệ thành thục đạt 75,55% ở cá cái và 33,33% ở cá đực.
Khi kích thích sinh sản, nhóm sử dụng phương pháp tiêm ba liều hormone HCG (3.000, 4.000 và 5.000 UI/kg cá cái) và phát hiện liều 3.000 UI/kg cho hiệu quả tối ưu, với tỷ lệ đẻ 100%, sức sinh sản 15.550 trứng/kg, tỷ lệ thụ tinh 91,33% và tỷ lệ nở 90,67%. Quy trình tiêm ba liều giúp đồng bộ hóa quá trình rụng trứng, hạn chế cá đẻ non hoặc trứng bị thoái hóa, đồng thời tăng tỷ lệ trứng khỏe mạnh.
Trong khâu ấp trứng, nhóm áp dụng ba phương pháp ấp khác nhau để xác định phương án hiệu quả nhất. Kết quả, phương pháp ấp trứng trên giá thể và áp trứng trong hệ thống nước chảy tuần hoàn, có bổ sung chế phẩm sinh học chứa Bacillus sp., giúp hạn chế nấm thủy mi, cho tỷ lệ nở cao nhất 92,92% và tỷ lệ sống 7 ngày tuổi đạt 91,12%.
Ở giai đoạn ương nuôi cá bột, từ 3–15 ngày tuổi, cá được cho ăn ấu trùng Artemia – nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa, giúp tỷ lệ sống đạt 88%. Từ 15–60 ngày tuổi, cá được cho ăn trùn chỉ kết hợp thức ăn công nghiệp (đạm 44%), mực nước duy trì ở 60 cm, sử dụng dây nilon và ống PVC làm giá thể trú ẩn. Tỷ lệ sống ở giai đoạn này đạt 76,07%, so với 10–15% ở các cơ sở sản xuất giống hiện nay. Sau 60 ngày, cá đạt kích thước 10 –15 cm, khỏe mạnh, đồng đều, sẵn sàng chuyển sang nuôi thương phẩm.
Đặc biệt, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm khả năng sinh sản trái vụ của cá chạch lấu và nhận thấy có thể nuôi vỗ cá chạch lẩu mùa nghịch bằng cách duy trì nhiệt độ ổn định ở mức 27–30°C. Khi tiêm kích thích sinh sản cho cá ở mùa nghịch, các chỉ số như tỷ lệ cá đẻ, thụ tinh, nở,... gần như tương đương ở mùa thuận. Kết quả này mở ra triển vọng sản xuất giống quanh năm, không phụ thuộc vào mùa mưa hay nắng.
Theo nhóm thực hiện, quy trình này hoàn toàn khả thi để áp dụng rộng rãi tại TPHCM và các tỉnh Nam Bộ, góp phần chủ động nguồn giống chất lượng cao, giảm áp lực khai thác cá tự nhiên, từ đó thúc đẩy phát triển nghề nuôi cá chạch lấu bền vững và hiệu quả.
Tin đăng KH&PT số 1369 (số 45/2025)