Từ lâu, gà trụi lông cổ - giống vật nuôi bản địa của đồng bào Thái, H’Mông ở Nghệ An - đã được biết đến nhờ chất lượng thịt thơm ngon và khả năng thích nghi vượt trội với điều kiện khí hậu vùng núi. Giống gà này được đưa vào danh mục bảo tồn nguồn gen từ năm 2018, sau khi được phát hiện tại bản Na Sái, xã Tiền Phong, huyện Quế Phong (cũ).
Gà trụi lông cổ nổi bật với cổ dài không có lông, màu sắc lông đa dạng, khả năng chịu nóng tốt và sức đề kháng cao, phù hợp với phương thức bán chăn thả truyền thống.
Tuy nhiên, hiện gà trụi lông cổ được nhân giống với số lượng hạn chế, kinh phí chỉ đủ để nuôi giữ bảo tồn, chưa đủ cho công tác chọn lọc, khiến năng suất và chất lượng đàn chưa ổn định. Các hộ chăn nuôi phải dùng gà thương phẩm hoặc giống kém chất lượng, trong khi trình độ kỹ thuật và quy trình chăm sóc, thú y chưa phù hợp, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi.
Nhằm giải quyết những vấn đề trên, Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN Nghệ An đã triển khai đề tài “Khai thác và phát triển nguồn gen gà trụi lông cổ tại một số tỉnh Bắc Trung Bộ”, hướng tới xây dựng đàn hạt nhân, đàn sản xuất và đàn thương phẩm, tạo ra chuỗi liên kết từ bảo tồn đến sản xuất thương mại.
Thông qua khảo sát, đánh giá hiện trạng và tuyển chọn những cá thể ưu tú nhất, nhóm nghiên cứu đã đưa gà về Trại Nghiên cứu thực nghiệm và Ươm tạo công nghệ cao Thái Hòa (xã Đông Hiếu, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An) để xây dựng đàn hạt nhân. Khi đưa về từ huyện Quế Phong, tỷ lệ lẫn, nở ra gà không trụi lông cổ khá cao, khoảng 40%, nên nhóm phải lựa chọn những đặc tính của gà trụi lông cổ, loại dần những cá thể không đảm bảo ngoại hình. Đến nay, tỷ lệ lẫn chỉ còn khoảng dưới 6%.
Bên cạnh đó, Trại đã xây dựng quy trình kỹ thuật chuẩn và tạo được một đàn gà hạt nhân gồm 400 mái, 80 trống, mang đầy đủ đặc điểm đặc trưng của giống. Đồng thời, xây dựng được đàn sản xuất với quy mô 1.000 con mái tại hai địa điểm chính: thị xã Thái Hòa và bản Na Sái, xã Tiền Phong, với sự tham gia của năm hộ dân.
Theo các hộ dân tham gia đề tài, nhờ được hỗ trợ con giống, kỹ thuật và thuốc men, đàn gà phát triển tốt hơn và gia đình có thêm thu nhập so với phương thức nuôi tự phát trước đây. Với các hộ tham gia nuôi đàn thương phẩm, đây là một loài vật nuôi mới nhưng lại dễ tính, dễ chăm sóc và cho chất lượng thịt trứng thơm ngon, giàu tiềm năng phát triển.
Nhóm thực hiện cho rằng, kết quả của Đề tài có khả năng ứng dụng vào các trung tâm nghiên cứu chuyên về gia cầm; doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh con giống và sản phẩm gia cầm; cũng như có thể triển khai rộng rãi ở các trang trại và các nông hộ chăn nuôi. Các quy trình nuôi, chăm sóc và quản lý đàn đã được chuẩn hóa, tạo cơ sở để nhân rộng mô hình, cung cấp con giống và sản phẩm thương phẩm ra thị trường. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc chuyển từ bảo tồn thụ động sang khai thác chủ động, biến nguồn gen quý thành hàng hóa có giá trị kinh tế, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và định hướng phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi.