Mô hình trồng gai xanh AP1 tại Đắk Lắk được xem là bước khởi đầu quan trọng để xây dựng vùng nguyên liệu mới cho ngành sợi dệt, đồng thời mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng khí hậu cho vùng Tây Nguyên.
Gai xanh vốn được đánh giá là một trong những cây lấy sợi có độ bền cao nhất trong nhóm sợi thực vật, có khả năng kháng khuẩn, chịu ẩm tốt, không bị nấm mốc. Tại Việt Nam, giống AP1 được công nhận năm 2018, cho năng suất cao, chất lượng sợi tốt, thích hợp sản xuất các dòng sản phẩm dệt may cao cấp. Bên cạnh sản phẩm chính là vỏ gai nguyên liệu để sản xuất sợi cung cấp cho ngành dệt may, cây gai xanh AP1 còn có các phụ phẩm sau thu hoạch, tách vỏ được sử dụng làm nguyên liệu chế biến thực phẩm, chế biến thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm hoặc sản xuất phân bón hữu cơ sử dụng trong nông nghiệp.
Tuy nhiên, ở Đắk Lắk, cây gai chưa từng được nghiên cứu một cách hệ thống, chưa có quy trình canh tác phù hợp cho các vùng đất đỏ bazan và đất xám – hai nhóm đất chiếm diện tích lớn của tỉnh. Vì vậy, Trung tâm Thông tin – Ứng dụng KH&CN Đắk Lắk đã triển khai thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm cây Gai xanh (Boehmeria nivea L. Gaud) lấy sợi và sản xuất phân bón hữu cơ tại tỉnh Đắk Lắk”.
Sau hơn hai năm triển khai (3/2023 – 5/2025) tại bốn địa điểm đại diện cho các vùng sinh thái của tỉnh gồm Buôn Ma Thuột, Krông Búk (đất đỏ bazan) và Buôn Đôn, Krông Bông (đất xám), kết quả cho thấy cây gai xanh sinh trưởng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu – thổ nhưỡng địa phương. Tỷ lệ sống ở vùng bazan cao, chỉ cần bổ sung giống trồng dặm (bổ sung thêm cây con vào những vị trí mà cây ban đầu bị chết, bị sâu bệnh hoặc sinh trưởng kém sau khi trồng) khoảng 15%, trong khi vùng đất xám cần bổ sung khoảng 25%.
Trồng cây gai xanh ở Đắk Lắk. Ảnh: NNC
Chiều cao cây tăng đều, đạt tiêu chuẩn thu hoạch sau 120–130 ngày. Tại vùng bazan, chiều cao cây đạt 155–160cm và chiều dài vỏ 135–138 cm, vượt trội so với vùng đất xám (140–145 cm và 125–130cm). Tỷ lệ cây hữu hiệu (cây khỏe mạnh, đạt tiêu chuẩn sau khi thu hoạch) tại hai vùng bazan đạt 44–46%, cao hơn mức 41–42% ở vùng đất xám. Gốc cây gai được cắt sát mặt đất và tiếp tục chăm sóc, giúp cây tái sinh và cho lứa thu hoạch kế tiếp sau 70–80 ngày.
Mô hình ở Buôn Ma Thuột và Krông Búk đạt năng suất vỏ 2,5–2,7tấn/ha/năm – tương đương kết quả khảo sát cây gai AP1 tại Thanh Hóa, nơi được xem là vùng trồng gai trọng điểm của cả nước. Ngược lại, Buôn Đôn và Krông Bông đạt khoảng 2 –2,1 tấn/ha – thấp hơn vùng bazan, nhưng tương đương năng suất ở các vùng ngoài dốc tại Hòa Bình, Sơn La. Tổng khối lượng vỏ thu được tại các mô hình gần 2,8 tấn, trong đó 88,4% đạt tiêu chuẩn loại 1, 2, 3 theo quy định phân loại nguyên liệu vỏ gai khô.
Về sinh khối và năng suất thân, vùng bazan đạt khoảng 53–57 tấn/ha/năm, thấp hơn mức tối ưu 63–86 tấn/ha/năm ghi nhận tại Thanh Hóa, nhưng cao hơn rõ rệt so với vùng đất xám (43–45 tấn/ha/năm). Kết quả này cho thấy điều kiện canh tác tại Tây Nguyên, đặc biệt trên đất bazan, hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu sinh trưởng của cây gai AP1 và có thể nâng năng suất cao hơn, khi được tối ưu hóa quy trình chăm sóc.
Thu hoạch, chế biến sợi từ cây gai xanh. Ảnh: NNC
Điểm đáng chú ý là trong suốt quá trình triển khai, sâu bệnh xuất hiện ở cả bốn địa điểm nhưng với mật độ thấp, không ảnh hưởng tới sinh trưởng và chất lượng vỏ gai, giúp giảm chi phí bảo vệ thực vật, phù hợp với mục tiêu phát triển cây trồng bền vững. Bên cạnh sản phẩm chính là vỏ gai nguyên liệu, phụ phẩm sau thu hoạch được nghiên cứu chế biến thành phân bón hữu cơ, đáp ứng tiêu chuẩn QCVN 01:189/2019/BNN-PTNT và có thể sử dụng cho nhiều loại cây trồng. Từ khối lượng phụ phẩm gai xanh trên 1 ha có thể sản xuất được khoảng 12–15 tấn phân bón hữu cơ thành phẩm.
Về hiệu quả kinh tế, mô hình gai xanh trên đất xám đạt khoảng 14–16 triệu đồng/ha trong năm đầu tiên và 34–36 triệu đồng/ha từ năm thứ hai trở đi. Ở vùng đất bazan, lợi nhuận cao hơn, đạt 52,5–60,5 triệu đồng/ha trong năm đầu và 69–77 triệu đồng/ha từ năm thứ hai trở đi.
So sánh với các cây trồng truyền thống ở địa phương (đậu phộng, bắp, khoai mì, cây ăn trái,…), vốn gặp khó khăn do khí hậu cực đoan, đất dốc dễ xói mòn và giá cả bấp bênh, thì cây gai xanh thể hiện ưu thế nhờ khả năng tái sinh nhanh, thu hoạch nhiều lứa trong năm, phụ phẩm có thể tận dụng để nâng giá trị gia tăng.
Bài đăng KH&PT số 1373 (số 49/2025)