Rau ngót rừng là một trong những loại rau đặc sản của miền núi phía Bắc, vừa có giá trị dinh dưỡng, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng. Lá và hoa ngót rừng được sử dụng làm thức ăn, có vị bùi ngọt và hàm lượng protein cao. Ngoài ra, lá và rễ cây được sử dụng làm thuốc có tác dụng hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc. Cây trồng một lần và cho thu hoạch vài chục năm,năng suất ổn định ước tính cho thu hoạch 3 - 5kg lá tươi/cây/năm với giá bán hiện nay từ 150.000 - 200.000đồng/kg. Tuy giá đắt hơn so với nhiều loại rau khác nhưng vẫn không đủ để phục vụ nhu cầu thị trường. Trong khi đó, nguồn rau trong tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức, cây ít tái sinh, nhiều diện tích bị chặt hạ.
Trước thực tế đó, Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao kỹ thuật lâm sinh đã triển khai đề tài nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, trồng thâm canh Rau ngót rừng theo hướng VietGap trên địa bàn huyện Nguyên Bình (cũ), nơi loại rau này gắn bó với đời sống đồng bào các dân tộc qua nhiều thế hệ.
Mặc dù rau ngót rừng tập trung nhiều nhất ở huyện này, việc khai thác chủ yếu dựa vào tự nhiên, người dân bẻ cành non, hái cả mầm tái sinh, khiến lượng cây con giảm mạnh. Vì vậy, trong rừng rất ít cây có quả để tái sinh tự nhiên và phục vụ nhân giống. Chỉ một số ít hộ đánh cây từ rừng về trồng nhưng việc trồng chủ yếu mang tính tự phát, không áp dụng quy trình kỹ thuật, dẫn tới tỷ lệ sống thấp và năng suất không đồng đều.
Nhóm nghiên cứu đã tập trung vào hai hướng nhân giống: gieo hạt và giâm hom. Thí nghiệm cho thấy công thức ruột bầu gồm 95% đất và 5% phân hữu cơ vi sinh cho cây con sinh trưởng tốt nhất. Mức che sáng 50% ánh sáng trực xạ đảm bảo tỷ lệ nảy mầm cao, đạt 87,3%; hạt bắt đầu nảy mầm sau 22 ngày và kết thúc sau 35 ngày. Với phương pháp giâm hom, chế phẩm hữu cơ Bio Root 0-1-1 cho kết quả tốt nhất vào vụ xuân.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm triển khai mô hình trồng thâm canh theo tiêu chuẩn VietGap với quy mô một hecta tại các xóm Lũng Ỉn, Lũng Rảo và Vũ Ngược (Vũ Minh). Trong đó, 0,2 ha được bố trí thí nghiệm bón phân. Kết quả, công thức bón lót 5 kg phân chuồng hoai hoặc 1 kg phân hữu cơ vi sinh kết hợp 0,1 kg vôi bột cho sinh trưởng tốt nhất, phù hợp với điều kiện đất đai vùng núi đá và núi đất của Nguyên Bình.
Dựa trên mô hình, nhóm đã hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng thâm canh rau ngót rừng theo hướng VietGap - bao gồm nhân giống, trồng, chăm sóc, theo dõi sâu bệnh và tiêu chuẩn thu hái. Sau 12 tháng, cây đạt chiều cao trung bình 30 – 40 cm, phản ánh đúng đặc tính sinh trưởng chậm của loài, nhưng đảm bảo phát triển bền vững khi áp dụng đúng kỹ thuật.
Bên cạnh đó, Đề tài còn nâng cao năng lực cho cộng đồng địa phương thông qua các lớp tập huấn về nhân giống và trồng thâm canh.
Nhìn chung, Đề tài đã góp phần định hướng lại cách tiếp cận đối với rau ngót rừng, biến loài rau đặc sản này từ chỗ khai thác tự nhiên thiếu bền vững thành cây trồng hàng hóa có quy mô và kỹ thuật, mở ra triển vọng hình thành vùng trồng tập trung, nâng cao thu nhập cho người dân và bảo tồn nguồn gen quý của địa phương.
Nhóm thực hiện khuyến cáo, để mô hình tiếp tục phát huy hiệu quả, người dân cần tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật; đồng thời, chính quyền và cơ quan chuyên môn tiếp tục hỗ trợ giống, kỹ thuật và kết nối tiêu thụ, tiến tới xây dựng thương hiệu rau ngót rừng Nguyên Bình theo chuẩn VietGap.
Bài đăng KH&PT số 1372 (số 48/2025)